Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG
I. GIỚI THIỆU CHUNG
1. Thông tin chung
● Tên đầy đủ: Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG
● Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số: 4600305723 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Thái Nguyên cấp lần đầu ngày 02/01/2003, đăng ký thay đổi lần thứ 37 ngày 19/07/2023
● Vốn điều lệ: 1.135.230.020.000 đồng (Một nghìn một trăm ba mươi lăm tỷ hai trăm ba mươi triệu không trăm hai mươi nghìn đồng)
● Vốn chủ sở hữu: 1.854.900.570.337 đồng (Một nghìn tám trăm năm mươi tư tỷ chín trăm triệu năm trăm bảy mươi nghìn ba trăm ba mươi bảy đồng)
● Điện thoại: 02083.858.508
● Email: info@tng.vn
● Website: https://www.tng.vn/trang-chu
● Mã cổ phiếu: TNG
2. Quá trình hình thành và phát triển
● Năm 1979, Xí nghiệp May Bắc Thái được thành lập với 02 chuyền máy sản xuất nhận viện trợ của Cộng hòa Dân chủ Đức.
● Năm 2007, doanh nghiệp đổi tên thành CTCP Đầu tư và Thương mại TNG và niêm yết trên sàn HNX với mã là TNG.
● Năm 2019, TNG chính thức mở rộng sang lĩnh vực bất động sản.
Bên cạnh đó, TNG cũng thúc đẩy phát triển về các sáng kiến công nghệ nhằm nâng cao năng suất sản xuất như thành lập phòng Robot đã cho ra đời 25 thiết kế với 10 máy móc tự động đã được áp dụng tại nhiều chi nhánh.
3. Lĩnh vực kinh doanh
TNG là đơn vị hoạt động trong lĩnh vực may công nghiệp xuất khẩu, sản xuất hàng nội địa.
4. Các công ty con và công ty liên kết
Doanh nghiệp có tổng cộng 3 công ty con hoạt động trong lĩnh vực thời trang và bất động sản, 2 công ty liên kết về xây lắp mạng lưới điện và kinh doanh sân golf. Đặc biệt 2 công ty con của TNG là CÔNG TY TNHH TNG FASHION và CÔNG TY TNHH MTV TNG ECO GREEN giải thể vào tháng 6/2023. 

5. Cơ cấu cổ đông
Tính đến ngày 22/01/2024, doanh nghiệp có 82,42% là cổ đông cá nhân, 17,58% là cổ đông tổ chức, trong đó các cổ đông lớn là ông Nguyễn Văn Thời (18,53%), ông Nguyễn Đức Mạnh (8,01%), ông Trần Cảnh Thông (6,26%), AFCVF Limited (6,07%), Nhóm nhà đầu tư nước ngoài (5,19%).
Lịch sử tăng vốn điều lệ
Từ khi thành lập đến nay TNG có tổng cộng 22 lần tăng vốn điều lệ, trong đó lần gần nhất là 10/03/2021 nâng tổng vốn điều lệ lên 1.135 tỷ đồng.
Lịch sử trả cổ tức
Tính tới ngày 31/12/2023, doanh nghiệp đã trả cổ tức 17 lần bằng tiền và cổ phiếu, lần gần nhất là vào 15/06/2023.
6. Ban lãnh đạo
Chủ tịch HĐQT của TNG là ông Nguyễn Văn Thời.
II. TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY 2023
1. Bảng cân đối kế toán
1.1. Về tài sản
Tổng tài sản của doanh nghiệp thời điểm 31/12/2023 là 5230 tỷ đồng, giảm 61 tỷ đồng so với năm 2022 (tương ứng 1%). Trong đó Tài sản ngắn hạn chiếm 43,2% và tài sản dài hạn chiếm 56,8%.
a/ Đánh giá tài sản ngắn hạn
TÀI SẢN NGẮN HẠN tại thời điểm 31/12/2023 là 2260 tỷ đồng, giảm 348 tỷ đồng (tương ứng giảm 13%) so với năm trước. Cơ cấu tài sản ngắn hạn gồm:
– Tiền và các khoản tương đương tiền tại thời điểm 31/12/2023 là 284 tỷ đồng, chiếm 5,4% tổng tài sản và giảm 229 tỷ (tương đương 45%) so với năm 2022, chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn.
– Đầu tư tài chính ngắn hạn tại thời điểm 31/12/2023 là 15 tỷ đồng, chiếm 0,3% tổng tài sản và tăng 15 tỷ so với năm 2022, chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn
– Các khoản phải thu ngắn hạn tại thời điểm 31/12/2023 của Công ty là 775 tỷ đồng, chiếm 14,8% tổng tài sản, tăng 216 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 39%).
+ Phải thu ngắn hạn của khách hàng là 697 tỷ, tăng 226 tỷ so với năm trước (tương ứng 48%), chủ yếu tới từ hai khách hàng là Công ty The Children’s place và Asmara International.
+ Trả trước cho người bán ngắn hạn là 1 tỷ, giữ nguyên so với năm trước, tương đương 73,7%.
+ Phải thu khác là 78 tỷ, giảm 11 tỷ so với năm trước, tương đương 13%.
+ Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi là 1 tỷ, giảm 2 tỷ so với năm trước (tương ứng 74%).
– Hàng tồn kho của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 1039 tỷ đồng, chiếm 19,9% tổng tài sản, giảm 241 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 19%), chủ yếu là chi phí sản xuất kinh doanh dở dang và nguyên vật liệu.
– Tài sản ngắn hạn khác tại thời điểm 31/12/2023 là 147 tỷ, chiếm 2,8% tổng tài sản, giảm 109 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 42%).
+ Trả trước ngắn hạn là 25 tỷ đồng, giữ nguyên so với năm trước
+ Thuế VAT phải thu tại thời điểm 31/12/2023 là 111 tỷ đồng, giảm 103 tỷ đồng (tương ứng giảm 48%) so với năm trước
+ Phải thu thuế khác tại thời điểm 31/12/2023 là 11 tỷ đồng, giảm 6 tỷ đồng (tương ứng giảm 36%) so với năm trước
b/Tài sản dài hạn của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 2971 tỷ đồng, tăng 286 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 11%).
– Các khoản phải thu dài hạn tại thời điểm 31/12/2023 là 11 tỷ, chiếm 0,2% tổng tài sản, giữ nguyên so với năm trước, chủ yếu là tiền thuê đất được bù trừ.
– Tài sản cố định của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 2185 tỷ, chiếm 41,8% tổng tài sản, tăng 373 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 21%)
+ Tài sản cố định hữu hình là 2023 tỷ, tăng 232 tỷ so với năm 2022 (tương đương 13%), chủ yếu là nhà xưởng vật kiến trúc, và máy móc thiết bị.
+ Tài sản cố định vô hình là 162 tỷ, tăng 141 tỷ so với năm 2022 (tương đương 656%), chủ yếu là quyền sử dụng đất.
– Bất động sản đầu tư tại thời điểm 31/12/2023 là 325 tỷ, chiếm 6,2% tổng tài sản, tăng 293 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 914%), chủ yếu là nhà cửa, vật kiến trúc của TNG Land.
– Tài sản dở dang dài hạn tại thời điểm 31/12/2023 là 282 tỷ, chiếm 5,4% tổng tài sản, giảm 402 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 59%), chủ yếu là mua sắm cơ bản cho dự án Khu công nghiệp Sơn Cẩm.
– Tài sản dài hạn khác tại thời điểm 31/12/2023 là 168 tỷ, chiếm 3,2% tổng tài sản, tăng 23 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 16%).
+ Chi phí trả trước dài hạn là 21 tỷ, tăng 2 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 13,3%).
+ Tài sản thuế thu nhập hoãn lại là 3 tỷ, tăng 3 tỷ so với năm trước.
1.2 Về nguồn vốn
Tại thời điểm 31/12/2023, tổng nguồn vốn của là 5230 tỷ đồng, giảm 51 tỷ so với năm trước (tương ứng 1%), trong đó: Nợ phải trả chiếm 64,5% tổng nguồn vốn của TNG, Vốn chủ sở hữu chiếm 35,5%.
1.2.1 Nợ phải trả:
Nợ phải trả tại thời điểm 31/12/2023 là 3376 tỷ đồng, giảm 266 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 7%). Trong đó, nợ ngắn hạn chiếm 75,4% tổng nợ phải trả, và nợ dài hạn chiếm 24,6%.
a) Nợ ngắn hạn: Tại thời điểm 31/12/2023, Nợ ngắn hạn của TNG là 2545 tỷ, chiếm 48,7% tổng nguồn vốn, giảm 379 tỷ so với năm trước (tương ứng 13%), chủ yếu tập trung ở các khoản sau:
– Phải trả người bán tại thời điểm 31/12/2023 là 477 tỷ đồng, chiếm 9,1% tổng nguồn vốn, giảm 182 tỷ đồng (tương ứng giảm 28%) so với năm trước, chủ yếu nợ Công ty YKK Việt Nam chi nhánh Hà Nam, và CTCP Sản xuất và Thương mại Việt Hàn TLP.
– Người mua trả tiền trước tại thời điểm 31/12/2023 là 9 tỷ đồng, chiếm 0,2% tổng nguồn vốn, giảm 24 tỷ đồng (tương ứng giảm 73%) so với năm trước
– Thuế và các khoản phải trả Nhà nước tại thời điểm 31/12/2023 là 25 tỷ đồng, chiếm 0,5% tổng nguồn vốn, tăng 7 tỷ đồng (tương ứng tăng 38%) so với năm trước
– Phải trả người lao động tại thời điểm 31/12/2023 là 81 tỷ đồng, chiếm 1,6% tổng nguồn vốn, giảm 74 tỷ đồng (tương ứng giảm 48%) so với năm trước
– Chi phí phải trả tại thời điểm 31/12/2023 là 55 tỷ đồng, chiếm 1% tổng nguồn vốn, tăng 11 tỷ đồng (tương ứng tăng 26%) so với năm trước
– Doanh thu chưa thực hiện ngắn hạn tại thời điểm 31/12/2023 là 4 tỷ đồng, chiếm 0,1% tổng nguồn vốn, giữ nguyên so với năm trước
– Phải trả khác tại thời điểm 31/12/2023 là 22 tỷ đồng, chiếm 0,4% tổng nguồn vốn, tăng 8 tỷ đồng (tương ứng tăng 55%) so với năm trước
– Vay ngắn hạn tại thời điểm 31/12/2023 là 1819 tỷ đồng, chiếm 34,8% tổng nguồn vốn, giảm 142 tỷ đồng (tương ứng giảm 7%) so với năm trước, chủ yếu là vay ngắn hạn ngân hàng, khoản lớn nhất vay ngân hàng BIDV chi nhánh Thái Nguyên.
– Quỹ khen thưởng, phúc lợi tại thời điểm 31/12/2023 là 53 tỷ đồng, chiếm 1% tổng nguồn vốn, tăng 16 tỷ đồng (tương ứng tăng 42%) so với năm trước
b/ Nợ dài hạn của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 830 tỷ đồng, chiếm 15,9% tổng nguồn vốn, tăng 114 tỷ đồng so với năm 2022 (tương ứng 16%).
– Doanh thu chưa thực hiện tại thời điểm 31/12/2023 là 8 tỷ đồng, chiếm 0,2% tổng nguồn vốn, tăng 7 tỷ đồng (tương ứng tăng 370%) so với năm trước
– Phải trả dài hạn khác tại thời điểm 31/12/2023 là 1 tỷ đồng, tăng 1 tỷ đồng so với năm trước
– Vay dài hạn tại thời điểm 31/12/2023 là 821 tỷ đồng, chiếm 15,7% tổng nguồn vốn, tăng 107 tỷ đồng (tương ứng tăng 15%) so với năm trước, chủ yếu là vay ngân hàng dài hạn phải hoàn trả trong vòng 5 năm. Trong năm vừa qua, TNG hoàn trả hơn 150 tỷ trái phiếu phát hành riêng lẻ và không phát hành thêm. 


1.2.2. Vốn chủ sở hữu: Tại thời điểm 31/12/2023, vốn chủ sở hữu của TNG là 1855 tỷ đồng, tăng 204 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 12%) do tăng 219 tỷ đồng lợi nhuận trong năm.
Có thể thấy, cơ cấu tài sản của TNG chủ yếu tập trung ở tài sản cố định hữu hình, hàng tồn kho và các khoản phải thu ngắn hạn. Tỷ lệ nợ và nợ vay trên tổng nguồn vốn giảm dần qua các năm, cho thấy công ty đang cố gắng cơ cấu lại nguồn vốn an toàn hơn, tuy nhiên tỷ lệ nợ vay trên tổng nguồn vốn vẫn tương đối lớn, chiếm 50,5%.
2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Tổng doanh thu năm 2023 của TNG đạt 7.095 tỷ, tăng 323 tỷ, tương đương tăng 4,77% so với năm 2022, khoản tăng chủ yếu đến từ doanh thu bán hàng. Trong bối cảnh nền công nghiệp dệt may chịu nhiều tác động lớn, Ban Lãnh đạo TNG đã chỉ đạo và đưa TNG hoàn thành 104% kế hoạch doanh thu năm 2023.
Về cơ cấu doanh thu, mảng bán hàng chiếm 83% tổng doanh thu, mảng gia công chiếm 16%.
Doanh thu bán hàng của TNG trong năm 2023 đạt 5.918 tỷ, tăng 284 tỷ so với năm 2022, tương đương tăng 5,06%. TNG cung cấp các sản phẩm tiêu biểu là sản phẩm may mặc, máy móc thiết bị ngành may, phần mềm quản trị doanh nghiệp ngành may. Sản phẩm của TNG được xuất khẩu sang 54 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó 46,08% là xuất khẩu sang Mỹ.
Mặc dù bối cảnh gây khó khăn cho ngành dệt may, TNG vẫn duy trì được các hợp đồng, đơn hàng từ các khách hàng lớn nước ngoài đồng thời tăng cường phát triển khách hàng mới ở các nước Nga, Hàn, các nước châu Á, khách hàng Studioray, Purple door (thị trường Mỹ). Đặc biệt năm 2023, TNG đã dịch chuyển xuất khẩu sang thị trường chính tại Mỹ và ghi nhận tỷ lệ xuất khẩu sang Mỹ cao nhất. Bên cạnh đó, TNG cũng chú trọng khai thác thêm dòng hàng mới của những khách hàng hiện tại.
Giá vốn năm 2023 của TNG là 6.114 tỷ, tăng 342 tỷ so với năm 2022 tương đương tăng 6%, trong đó giá vốn của mảng hàng bán là tăng mạnh nhất, chủ yếu do mở rộng phạm vi bán hàng (Nga, Hàn, các nước châu Á, khách hàng Studioray, Purple door (thị trường Mỹ)) công ty vẫn tồn đọng các đơn hàng có giá trị thấp vào cuối năm 2023 (được giao vào tháng 1/2024).
Lợi nhuận gộp của TNG năm 2023 đạt 999 tỷ, giảm 19 tỷ, tương đương giảm 1,92% so với năm 2022, do giá vốn hàng bán tăng 6% trong khi sức tăng của doanh thu chỉ là 4%. Do đó, biên lợi nhuận gộp của TNG năm 2023 đạt 14%, giảm 1% so với 2022.
Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp đạt 461 tỷ, tăng 14 tỷ so với năm 2022 (tương đương tăng 3%), trong đó chủ yếu đến từ chi phí quản lý nhân viên và chi phí vận chuyển.
Doanh thu tài chính năm 2023 của TNG giảm 18,62% do chênh lệch tỷ giá, ngược lại chi phí tài chính của doanh nghiệp này lại tăng gần 8% đến từ lãi tiền vay.
Lợi nhuận sau thuế đạt 219 tỷ, giảm 73 tỷ so với năm 2022 (tương đương giảm 25%). Biên lợi nhuận ròng giảm 1% từ 4% về còn 3% trong năm 2023.
3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
4. Các chỉ số tài chính
III. KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NĂM 2024
Lũy kế 6 tháng đầu năm, doanh thu của TNG đạt 3.527 tỷ đồng, tăng 193 tỷ so với cùng kỳ năm trước và đạt 44,6% kế hoạch đề ra. Lợi nhuận sau thuế đạt 130 tỷ đồng, giảm 34 tỷ so với cùng kỳ và đạt 41,9% kế hoạch.
Doanh thu Quý 2 tăng trưởng so với quý trước, chủ yếu do kết quả kinh doanh thuận lợi của Quý 2 khi tăng trưởng 8,43% so với cùng kỳ năm trước và gần gấp đôi Quý 1. Đây là doanh thu lớn nhất của TNG trong vòng 5 quý trở lại đây cho thấy số lượng đơn hàng của doanh nghiệp trong Quý 2 rất tốt và Quý 1 chuẩn bị hàng tồn kho để phục vụ cho Quý 2 và Quý 3.
Doanh thu chủ yếu vẫn đến từ mảng bán hàng, chiếm 86% tổng doanh thu, và doanh thu gia công chiếm 13%.
Biên lợi nhuận gộp 6 tháng năm 2024 đã cải thiện lên 15,9%, khi cùng kỳ năm trước chỉ đạt 13%.
Về tình hình đơn hàng, Dệt may TNG cho biết khối lượng đơn hàng đã lấp đầy cho đến cuối năm nay. Trong đó, lượng đơn hàng FOB từ các khách hàng truyền thống như Decathlon, Asmara, TCP hay Columbia đều hồi phục mạnh trở lại trong bối cảnh hàng tồn kho tại Mỹ đã giảm dần. Tính đến hết quý 1/2024, tồn kho hàng thời trang tại Mỹ đã giảm 10,2% so với cùng kỳ năm ngoái và giảm 3,5% so với quý 4/2023.
Dệt may TNG cũng ghi nhận lượng đơn đặt hàng tăng đột biến từ đối tác lâu năm là Decathlon nhằm phục vụ nhu cầu cho Olympic Mùa Hè 2024 tại Pháp. Riêng đơn hàng phục vụ cho Thế vận hội Olympic Mùa Hè 2024 của Decathlon đã đóng góp hơn 100.000 sản phẩm vào kế hoạch sản lượng nửa đầu năm nay của Dệt may TNG. Bên cạnh tăng trưởng về sản lượng, đơn giá trong năm 2024 cũng tăng 5% so với năm 2023.
Bên cạnh đó, như Tạp chí Công Thương đã phân tích, lượng đơn hàng dành cho Dệt may TNG tăng lên còn đến từ xu hướng dịch chuyển đơn hàng khỏi Bangladesh khi công nhân ngành dệt may ở đây có thể tiếp tục đình công diện rộng.
Về triển vọng và thách thức trong thời gian tới?
Biên lợi nhuận gộp của Dệt may TNG kỳ vọng được cải thiện đáng kể từ nửa cuối năm nay khi các đơn hàng FOB vốn có biên lợi nhuận gộp cao được đưa vào sản xuất cũng như giá đơn hàng dần hồi phục.
Về tình hình đơn hàng trong giai đoạn nửa sau năm 2024, Dệt may TNG đã có đủ đơn hàng cho đến quý 4/2024. Trong đó, phần lớn là các đơn hàng từ Bangladesh do hàng loạt nhà máy tại đây ngưng hoạt động. Hiện một số tổ chức quốc tế nhận định các cuộc đình công đang nhen nhóm bùng phát trở lại. Những yếu tố này đã thúc đẩy một số hãng thời trang như Zara và H&M chuyển đơn hàng đến các đối tác sản xuất khác ngoài Bangladesh.
Giá bán cho đơn hàng đến hết quý 3/2024 của Dệt may TNG hiện cũng đã tăng 5% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhằm đáp ứng nhu cầu đang có tín hiệu tăng trưởng tích cực, Dệt may TNG hiện có kế hoạch mở rộng thêm 45 chuyền may trong năm 2024, tương đương với tăng trưởng tổng công suất thêm khoảng 15%. Chuyền may mới sẽ tập trung tại nhà máy Việt Thái-Sơn Cẩm, Việt Đức – Sơn Cẩm, và Đồng Hỷ. Dệt may TNG dự kiến di chuyển Nhà máy Việt Đức về Khu công nghiệp Sơn Cẩm 1 vào khoảng quý 2 – quý 3/2024. Việc di chuyển hai nhà máy may Việt Đức và Việt Thái vào cùng khu công nghiệp sẽ tăng tính liên kết với các nhà máy phụ trợ, qua đó cải thiện hiệu suất tổng thể.
Đáng chú ý, các dự án đầu tư mới của Dệt may TNG đều chú trọng vào việc thực hành các tiêu chuẩn phát triển bền vững với môi trường và cộng đồng – ESG, đáp ứng yêu cầu cao từ các thị trường xuất khẩu chủ lực là Mỹ và Châu Âu. Tính đến thời điểm hiện tại, TNG là doanh nghiệp Việt Nam duy nhất minh bạch toàn bộ thông tin ESG theo tiêu chuẩn Sáng kiến Báo cáo Toàn cầu và hiện đáp ứng 17 mục tiêu phát triển bền vững
Kỳ vọng TNG sẽ có được doanh thu khủng trong quý 3/2024 khi đây là thời điểm cao điểm của dệt may và TNG ghi nhận các đơn hàng giá cao.