NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
I. GIỚI THIỆU CHUNG
1. Thông tin chung
● Tên đầy đủ: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam.
● Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số: 0301179079 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh cấp.
● Vốn điều lệ: 17.469.561.480.000 đồng (Mười bảy nghìn bốn trăm sáu mươi chín tỷ năm trăm sáu mươi một triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng).
● Vốn chủ sở hữu: 22.444.999.000.000 đồng (Hai mươi hai nghìn bốn trăm bốn mươi tư tỷ chín trăm chín mươi chín triệu đồng)
● Điện thoại: (84.8) 38.210.056
● Email: contact@eximbank.com.vn
● Website: https://eximbank.com.vn/
● Mã cổ phiếu: EIB
2. Quá trình hình thành và phát triển
● Được thành lập năm 1989, Eximbank có tên gọi ban đầu là Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam. Nhưng đến năm 1990, Eximbank mới bắt đầu đi vào hoạt động với tên mới là Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam.
● Trong những năm 1989 – 2000, ngân hàng đã tham gia hệ thống thanh toán điện tử của Ngân hàng Nhà nước. EIB tham gia vào hệ thống SWIFT năm 1995.
● Năm 2003, Eximbank đã thực hiện hệ thống thanh toán nội hàng trực tuyến trên toàn hệ thống.
● Năm 2009, vốn điều lệ của ngân hàng tăng lên 8.800 tỷ đồng, nằm trong nhóm ngân hàng TMCP ngoài quốc doanh có vốn điều lệ cao nhất Việt Nam thời điểm đó.
● Từ 2015 đến nay, Eximbank đã không ngừng cải thiện về chất lượng sản phẩm và dịch vụ để đáp ứng tốt hơn nhu cầu và nâng cao trải nghiệm của người dùng. Đến năm 2021, ngân hàng đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ khách hàng do đại dịch covid-19 rồi ra mắt nền tảng ngân hàng số đa kênh đầu tiên tại Việt Nam là Eximbank Omni.
● Năm 2023, Eximbank tiếp tục thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển các sản phẩm và dịch vụ giúp đáp ứng nhu cầu ngày càng cao.
3. Lĩnh vực kinh doanh
Eximbank được biết đến là một trong các ngân hàng hàng đầu cung cấp các dịch vụ dành cho các doanh nghiệp, nhất là trong lĩnh vực hoạt động xuất nhập khẩu như: tài trợ tín dụng, chiết khấu, giấy tờ có giá với lãi suất ưu đãi, huy động vốn tiền gửi, thanh toán trong nước và quốc tế, mua bán vàng và ngoại tệ….
4. Các công ty con và công ty liên kết
Tính đến thời điểm hiện tại, EIB chỉ có 1 công ty con duy nhất là Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và khai thác tài sản – Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Eximbank AMC) với vốn điều lệ là 300 tỷ đồng với 100% sở hữu vốn.
5. Cơ cấu cổ đông
Tính đến ngày 19/09/2024, Eximbank có duy nhất Gelex là cổ đông lớn, nắm giữ 10%.
Lịch sử tăng vốn điều lệ
Từ khi thành lập đến nay EIB có tổng cộng 10 lần tăng vốn điều lệ, trong đó lần gần nhất là 11/2023 nâng tổng vốn điều lệ lên 17.469 tỷ đồng.
Lịch sử trả cổ tức
Tính tới nay, doanh nghiệp đã trả cổ tức 14 lần bằng cổ phiếu và bằng tiền, với ngày thanh toán gần nhất sẽ là 4/10/2024.
6. Ban lãnh đạo
Chủ tịch HĐQT của EIB là ông Nguyễn Cảnh Anh, được bổ nhiệm từ tháng 4 năm 2024.
II. TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY 2023
1. Bảng cân đối kế toán
TỔNG TÀI SẢN tại thời điểm 31/12/2023 là 201.417 tỷ đồng, tăng 16.361 tỷ đồng so với năm trước (tương ứng 8,8%).
– Tiền mặt, vàng bạc, đá quý tại thời điểm 31/12/2023 là 2257 tỷ đồng, chiếm 1% tổng tài sản, tăng 132 tỷ đồng so với năm trước (tương ứng 6,2%)
– Tiền gửi tại NHNN tại thời điểm 31/12/2023 là 4.059 tỷ đồng, chiếm 2% tổng tài sản, giảm 1.526 tỷ đồng so với năm trước (tương ứng 27,3%)
– Tiền, vàng gửi tại các TCTD khác và cho vay các TCTD khác tại thời điểm 31/12/2023 là 43.027 tỷ đồng, chiếm 21% tổng tài sản, tăng 16980 tỷ đồng so với năm trước (tương ứng 65,2%). Cơ cấu tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn khá cân bằng.
– Cho vay khách hàng tại thời điểm 31/12/2023 là 138.913 tỷ đồng, chiếm 69% tổng tài sản, tăng 9.717 tỷ đồng so với năm trước (tương ứng 7,5%). Cho vay khách hàng cá nhân trị giá 81048 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng cho vay. Mảng cho vay chủ yếu là bán buôn bán lẻ và sửa chữa ô tô – mô tô – xe máy

Về chất lượng tín dụng, tỷ lệ nợ xấu đạt 3727 tỷ đồng, chiếm 2,7% tổng dư nợ, chủ yếu là nợ nhóm 5 và tăng mạnh nợ nhóm 4. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu đạt 41,2%, thuộc nhóm có tỷ lệ này thấp khi tỷ lệ trung bình ngành đạt 94%.
Trong đó, chủ yếu cho vay ngắn hạn trị giá 100281 tỷ đồng, chiếm 71,4% tổng dư nợ. 

– Chứng khoán đầu tư tại thời điểm 31/12/2023 là 6983 tỷ đồng, chiếm 3% tổng tài sản, giảm 9091 tỷ đồng so với năm trước (tương ứng 56,6%)
+ Chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán tại thời điểm 31/12/2023 là 3713 tỷ đồng, chiếm 2% tổng tài sản, tăng 1600 tỷ đồng (tương ứng 75,7%), chủ yếu là chứng khoán nợ.
+ Chứng khoán đầu tư giữ đến ngày đáo hạn tại thời điểm 31/12/2023 là 3439 tỷ đồng, chiếm 2% tổng tài sản, giảm 10667 tỷ đồng (tương ứng 75,6%)
+ Dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư tại thời điểm 31/12/2023 là 169 tỷ đồng, giảm 24 tỷ đồng (tương ứng 16,8%)
– Tài sản cố định tại thời điểm 31/12/2023 là 3682 tỷ đồng, chiếm 2% tổng tài sản, tăng 412 tỷ đồng so với năm trước (tương ứng 12,6%)
+ Tài sản cố định hữu hình là 1110 tỷ đồng, tăng 406 tỷ đồng so với năm trước, chủ yếu là nhà cửa vật kiến trúc và máy móc thiết bị.
+ Tài sản cố định vô hình là 2572 tỷ đồng, tăng 4 tỷ đồng so với năm trước, chủ yếu là quyền sử dụng đất.
– Tài sản “Có” khác tại thời điểm 31/12/2023 là 2496 tỷ đồng, chiếm 1% tổng tài sản, giảm 141 tỷ đồng so với năm trước (tương ứng 5,2%)
+ Các khoản phải thu tại thời điểm 31/12/2023 là 1319 tỷ đồng, tăng 20 tỷ đồng so với năm trước (tương ứng 1,5%)
+ Các khoản lãi, phí phải thu tại thời điểm 31/12/2023 là 806 tỷ đồng, giảm 177 tỷ đồng so với năm trước (tương ứng 18%)
+ Tài sản thuế TNDN hoãn lại tại thời điểm 31/12/2023 là 21 tỷ đồng, giữ nguyên so với năm trước.
+ Tài sản Có khác tại thời điểm 31/12/2023 là 817 tỷ đồng, tăng 16 tỷ đồng so với năm trước (tương ứng 2%)
+ Các khoản dự phòng rủi ro cho các tài sản Có nội bảng khác tại thời điểm 31/12/2023 là 466 tỷ đồng, giữ nguyên so với năm trước
– Tổng nguồn vốn tại thời điểm 31/12/2023 là 201417 tỷ đồng, tăng 16361 tỷ đồng so với năm trước (tương ứng 8,8%).
Trong đó nợ phải trả chiếm 89% tổng nguồn vốn, vốn và các quỹ chiếm 11%.
– Nợ phải trả tại thời điểm 31/12/2023 là 178972 tỷ đồng, tăng 14396 tỷ đồng so với năm trước (tương ứng 8,7%)
+ Các khoản nợ Chính phủ và NHNN tại thời điểm 31/12/2023 là 20 tỷ đồng, giảm 4 tỷ đồng (tương ứng 18,1%) so với năm trước
+ Tiền gửi và vay các TCTD khác tại thời điểm 31/12/2023 là 16364 tỷ đồng, chiếm 8% tổng tài sản, tăng 4471 tỷ đồng (tương ứng 37,6%) so với năm trước
– Tiền gửi của các TCTD khác tại thời điểm 31/12/2023 là 16364 tỷ đồng, chiếm 8% tổng tài sản, tăng 4471 tỷ đồng so với năm trước (tương ứng 37,6%), chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn.
– Vay các TCTD khác tại thời điểm 31/12/2023 giảm hết 2472 tỷ đồng trong năm.
+ Tiền gửi của khách hàng tại thời điểm 31/12/2023 là 156329 tỷ đồng, chiếm 78% tổng nguồn vốn, tăng 7715 tỷ đồng (tương ứng 5,2%) so với năm trước, chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn bằng Việt Nam đồng
Chủ yếu là tiền gửi cá nhân, trị giá 100.536 tỷ đồng, chiếm 64,3% tổng tiền gửi. 

+ Các công cụ tài chính phái sinh và các khoản nợ tài chính khác tại thời điểm 31/12/2023 tăng từ 0 lên 231 tỷ đồng trong năm 2023.
+ Phát hành giấy tờ có giá tại thời điểm 31/12/2023 là 2000 tỷ đồng, chiếm 1% tổng tài sản, tăng từ 0 lên 2000 tỷ đồng so với năm trước.
+ Các khoản nợ khác tại thời điểm 31/12/2023 là 4028 tỷ đồng, chiếm 2% tổng tài sản, giảm 16 tỷ đồng so với năm trước (tương ứng 0,4%)
+ Các khoản lãi, phí phải trả tại thời điểm 31/12/2023 là 2552 tỷ đồng, chiếm 1% tổng tài sản, tăng 63 tỷ đồng so với năm trước (tương ứng 2,5%)
+ Các khoản phải trả và công nợ khác tại thời điểm 31/12/2023 là 1476 tỷ đồng, chiếm 1% tổng tài sản, giảm 79 tỷ đồng so với năm trước (tương ứng 5,1%), chủ yếu là quỹ khen thưởng phúc lợi
– Vốn và các quỹ tại thời điểm 31/12/2023 là 22445 tỷ đồng, chiếm 11% tổng tài sản, tăng 1965 tỷ đồng so với năm trước (tương ứng 9,6%), chủ yếu do tăng lợi nhuận chưa phân phối.
Có thể thấy, cho vay và tiền gửi khách hàng của EIB chủ yếu đến từ tệp khách hàng cá nhân. Tỷ lệ nợ xấu tương đối cao và bao phủ nợ xấu thuộc nhóm thấp so với trung bình ngành.
2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Tổng thu nhập hoạt động (TOI) của Eximbank là 6555 tỷ đồng, giảm 744 tỷ đồng (tương ứng 10%) so với năm trước.
Thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự năm 2023 của Eximbank đạt 14.699 tỷ, tăng 2.529 tỷ so với năm 2022 (tương đương 20,7%). Trong đó, 91% đến từ thu nhập lãi cho vay và 6% đến từ thu nhập lãi tiền gửi. 

Thu nhập lãi cho vay của EIB năm 2023 đạt 13.383 tỷ, tăng 2.387 tỷ, tương đương tăng 22% so với năm 2022. Cụ thể cho vay khách hàng đạt 140.488 tỷ, tăng 9.943 tỷ so với năm 2022, trong đó 58% là khoản vay của các hộ kinh doanh và cá nhân.
Trong năm 2023, Eximbank triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi với lãi suất cạnh tranh nhằm chia sẻ với khách hàng trong giai đoạn khó khăn chung của nền kinh tế như “Ưu đãi kinh doanh – Đồng hành vững bước” dành cho cá nhân vay sản xuất kinh doanh và “Ưu đãi cho vay – Trao tay lợi ích” dành cho cá nhân vay vốn mua bất động sản, tiêu dùng với mức lãi suất thuộc nhóm thấp nhất thị trường. Ngoài ra, Eximbank với “Gói chi lương ưu đãi” thể hiện lợi thế đồng hành trong thanh toán định phí dành cho khách hàng doanh nghiệp. 

Tổng số tiền gửi không kỳ hạn năm 2023 của EIB là 23.626 tỷ, tăng 3.585 tỷ, tương đương tăng 18% so với năm 2022, đưa tỉ lệ CASA của Eximbank đạt 14% năm 2023, tăng 1% so với năm 2022. Năm 2023, Eximbank ưu tiên triển khai các dự án số trên toàn hệ thống, chuẩn hoá và tối ưu quy trình quản lý, vận hành và kinh doanh nâng cao chất lượng dịch vụ, đồng thời ứng dụng công nghệ để đổi mới sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường và khách hàng.
NIM năm 2023 của Eximbank đạt 0,02, giảm 1% với năm 2022, chủ yếu đến từ khoản trích lập dự phòng bổ sung 694 tỷ cho khách hàng được hỗ trợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn theo Thông tư 02/2023, dẫn đến việc lợi nhuận tăng trưởng âm là -18%.
CIR của EIB năm 2023 đạt 1,56%, giảm 0,32% so với năm 2022, do chi phí hoạt động của doanh nghiệp giảm 10% (chủ yếu là khoản giảm đến từ việc giảm lương và phụ cấp nhân sự) trong khi tổng tài sản lại tăng 9%.
LDR của EIB đạt 0,81 trong năm 2023, giảm 1% so với năm 2022.
Lợi nhuận sau thuế của EIB đạt 2.165 tỷ, giảm 780 tỷ, tương đương 26,5% so với 2022.
3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
4. Các chỉ số tài chính
III. KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NĂM 2024
Lũy kế 6 tháng đầu năm, tổng thu nhập hoạt động của EIB là 3545 tỷ đồng, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do tăng mạnh thu nhập lãi thuần thêm 539 tỷ đồng và từ hoạt động khác. Lãi thuần từ hoạt động khác tăng do thu thêm 111 tỷ đồng từ nợ đã xử lý rủi ro.
Lãi thuần từ các hoạt động khác đều giảm.
Tổng dư nợ cho vay tính đến 30/6/2024 đạt 151328 tỷ đồng, tăng 7,5% so với đầu năm, nguyên nhân chủ yếu đến từ tăng trưởng trên nền thấp của cùng kỳ năm ngoái và từ đầu năm EIB đã mạnh tay cắt giảm lãi suất để thúc đẩy mảng cho vay cá nhân. Mức tăng trưởng tín dụng cao hơn nhẹ so với trung bình ngành là 6% tính trong 6 tháng đầu năm.
Tuy nhiên tổng nợ xấu đạt 4002 tỷ đồng, chiếm 2,65% tổng dư nợ và tăng 7,4% so với đầu năm chủ yếu do tăng nhóm nợ có khả năng mất vốn.
Tỷ lệ bao phủ nợ xấu vẫn ở mức thấp, đạt 38,96%, giảm từ mức 42,5% vào cuối năm 2023.
Các ngân hàng nhỏ phải đối mặt với nhiều vấn đề về nợ xấu và thanh khoản. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng sụt giảm.
Ngân hàng đẩy mạnh cho vay ngành hoạt động cho thuê các công việc trong hộ gia đình, sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ tự tiêu dùng của hộ gia đình.
Tăng trưởng tiền gửi 6 tháng đầu năm đạt 4,3% so với đầu năm, với mức lãi suất chủ yếu giữ nguyên và giảm nhẹ so với đầu năm, mặc dù mặt bằng lãi suất tiết kiệm tăng trở lại.
Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp đạt 1170 tỷ đồng, tăng 51 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước.
Về rủi ro và thách thức
Ngân hàng vẫn đang duy trì tỷ lệ nợ xấu gia tăng trong suốt 6 tháng đầu năm, với tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm sút, có thể gây ảnh hưởng đến tính thanh khoản của Eximbank khi các hoạt động thu hồi nợ không đạt hiệu quả.
Tuy nhiên với mức tăng trưởng tiền gửi và tăng trưởng tín dụng tương đối tốt trong bối cảnh tăng trưởng chung trong ngành chậm lại.
Dự báo nhu cầu tín dụng tiếp tục xu hướng tăng mạnh hơn từ giữa năm 2024, khi sản xuất và đầu tư tăng tốc trong các tháng cuối năm nay, vì vậy dự kiến mảng cho vay bán buôn, bán lẻ (chiếm 36% cơ cấu cho vay EIB 2023) tiếp tục tăng trưởng. Ngoài ra, tín dụng bất động sản hồi phục khi thị trường bất động sản ấm dần lên từ Quý 4 năm 2023.
Trong Quý 2 năm 2024, EIB đã triển khai chương trình “SMEs – khởi động 2024”, cung cấp gói tín dụng 20,000 tỷ đồng với ưu đãi với lãi suất chỉ từ 5% cố định trong thời gian ưu đãi, tối đa 9 tháng tùy theo nhu cầu vốn của khách hàng SMEs. Do đó kỳ vọng mảng cho vay SMEs sẽ tăng trưởng trở lại.
Vì thế, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại lớn có thể nhích thêm 50 điểm cơ bản, lên mức 5,2 – 5,5% vào cuối năm 2024. Tuy nhiên, lãi suất đầu ra vẫn duy trì mặt bằng hiện tại, trong bối cảnh các cơ quan quản lý và các ngân hàng thương mại đang nỗ lực hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn, kích cầu tín dụng. Trước đó, NHNN yêu cầu các ngân hàng giảm lãi suất cho vay thêm 1-2% theo định hướng của Chính phủ, triển khai các giải pháp tăng trưởng tín dụng, áp lực tăng trưởng tín dụng trong quý II với con số thực hiện cao, kéo theo nhu cầu vốn tăng.