PHÂN TÍCH MÃ CỔ PHIẾU BSR
CTCP Lọc Hoá Dầu Bình Sơn
1. GIỚI THIỆU CHUNG:
1.1. Thông tin chung
– Tên đầy đủ: CTCP Lọc hóa Dầu Bình Sơn
– Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 4300378569 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Ngãi cấp lần đầu ngày 05/06/2008, cấp thay đổi lần thứ 15 ngày 05/09/2023.
– Vốn điều lệ: 31,004,996,160,000 đồng
– Điện thoại: (0255) 3825 825
– Email: tmtt@bsr.com.vn
– Trụ sở chính: Số 208 – Đại lộ Hùng Vương – Tp. Quảng Ngãi – T. Quảng Ngãi
– Website: http://www.bsr.com.vn
– Mã cổ phiếu: BSR (UPCoM)
1.2. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn tiền thân là Công ty TNHH một thành viên Lọc hóa dầu Bình Sơn, được thành lập vào ngày 09/5/2008 theo Quyết định số 1018/QĐ-DKVN của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn được giao trách nhiệm tiếp nhận, quản lý, vận hành Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, giữ vai trò tiên phong và đặt nền móng cho sự phát triển ngành công nghiệp lọc hóa dầu Việt Nam, đồng thời là nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực này.
Ngày 17/01/2018, BSR tổ chức thành công đợt bán cổ phần lần đầu ra công chúng tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM Đến ngày 01/03/2018, cổ phiếu BSR bắt đầu giao dịch trên hệ thống UPCoM của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội. Ngày 01/07/2018, Công ty chính thức hoạt động theo mô hình CTCP với tên giao dịch là Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình sơn, mã chứng khoán BSR.
Về Nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy được xây dựng tại Khu kinh tế Dung Quất, thuộc địa bàn các xã Bình Thuận và Bình Trị, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi với diện tích khoảng 956 ha (bao gồm cả 140 ha mở rộng trong tương lai) bao gồm 485 ha mặt đất và 471 ha mặt biển. Công suất của Nhà máy lọc dầu Dung Quất vào khoảng 6,5 triệu tấn dầu thô/năm, tương đương 148.000 thùng/ngày, hiện tại, sau khi hoàn thành nâng cấp mở rộng đã nâng lên 8,5 triệu tấn dầu thô/năm, tương đương 192.000 thùng/ngày.
Theo Quyết định 514/QĐ-TTg ngày 10/7/1997 (giai đoạn tự đầu tư từ năm 1997 đến 1999): Tổng mức đầu tư cho Nhà máy lọc dầu Dung Quất là 1,5 tỷ USD. Sau khi hoàn thành công tác xây dựng và chạy thử nhà máy, theo Quyết định số 1291/QĐ-TTg ngày 17/8/2009, tổng mức đầu tư được phê duyệt là 3,053 tỷ USD.
1.3. Lĩnh vực kinh doanh
1.3.1. Ngành nghề kinh doanh:
– Kinh doanh, xuất, nhập khẩu, tàng trữ và phân phối dầu thô.
– Sản xuất, bán buôn và bán lẻ các sản phẩm dầu mỏ, sản phẩm trung gian, nhiên liệu sinh học, hạt nhựa Polypropylene…
– Cung cấp dịch vụ bảo dưỡng sửa chữa và tư vấn kỹ thuật trong lĩnh vực lọc – hóa dầu.
– Đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực trong công nghiệp lọc – hóa dầu.
– Cung cấp dịch vụ hàng hải và cảng biển liên quan đến ngành lọc – hóa dầu.
– Đầu tư và phát triển các dự án lọc – hóa dầu, nhiên liệu sinh học.
1.3.2. Sản phẩm kinh doanh:
Sản phẩm của BSR đến từ Nhà máy lọc dầu Dung Quất, cơ cấu sản phẩm gồm: gồm: Khí hóa lỏng LPG, Khí hóa lỏng Propylene, Xăng RON 92/A95/, Xăng E5/10, Dầu hỏa, Xăng máy bay Jet A1/JetA1K, Dầu DO/DO L62, Dầu FO, Hạt nhựa Polypropylene và Lưu huỳnh. Chất lượng các sản phẩm của NMLD Dung Quất được quản lý theo quy trình khép kín, các sản phẩm trước khi đưa ra thị trường phải đạt các tiêu chuẩn sản phẩm của Việt Nam và quốc tế.
1.4. Cơ cấu cổ đông
Tính đến 31/12/2023, cơ cấu cổ đông của BSR gồm: 99.64% là cổ đông trong nước và 0.36% là tổ chức nước ngoài. Trong đó, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là cổ đông lớn nhất, nắm trong tay 2,856,380,247 cổ phiếu BSR, tương đương 92.13% cổ phần của Công ty.
1.5. Ban lãnh đạo 

Chủ tịch HĐQT của BSR là ông Nguyễn Văn Hội, Tổng giám đốc là ông Bùi Ngọc Dương. Ban lãnh đạo BSR không nắm giữ cổ phần của công ty.
1.6. Công ty con, công ty liên kết
Tính đến 31/12/2023, CTCP Lọc hoá dầu Bình Sơn có 2 công ty con và 2 công ty liên kết.
Về công ty con, BSR sở hữu CTCP Nhiên liệu sinh học Dầu khí Miền Trung có vốn điều lệ 982 tỷ đồng với tỷ lệ sở hữu là 65.54% và CTCP Nhà và Thương mại Dầu khí được niêm yết trên sàn UPCoM với mã cổ phiếu PBT, có vốn điều lệ 175.2 tỷ đồng với tỷ lệ sở hữu 83.26%.
Về công ty liên kết, BSR có 2 công ty liên kết là Công ty cổ phần Bảo dưỡng và Sửa chữa Công trình Dầu khí với vốn điều lệ đăng ký 100 tỷ đồng, tỷ lệ sở hữu 8.75% và Công ty TNHH Kho ngầm Xăng dầu Dầu khí Việt Nam với vốn điều lệ 95.5 tỷ đồng, tỷ lệ sở hữu 5.03%.
1.7. Cổ tức
Thời gian gần đây, BSR thực hiện trả cổ tức năm 2022 bằng tiền với mức 700 đồng/cổ phiếu và trả cổ tức năm 2021 bằng tiền mặt với mức 300 đồng/cổ phiếu.
2. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY
2.1. Về tài sản Bảng cân đối kế toán
2.1.1. Về tài sản
(Đơn vị: Triệu đồng)
Tổng tài sản của công ty thời điểm 31/12/2023 là 86,594 tỷ đồng, tăng 8,106 tỷ đồng so với năm 2022 (tương ứng 10.33%). Trong đó Tài sản ngắn hạn là 68,680 tỷ đồng, chiếm 79.31% và tài sản dài hạn 17,914 tỷ đồng chiếm 20.69% tổng tài sản.
a. Đánh giá tài sản ngắn hạn:
Thời điểm 31/12/2023, tài sản ngắn hạn của Công ty là 68,680 tỷ đồng, tăng 10,209 tỷ đồng (tương ứng 17.46%) so với năm 2022. Cơ cấu tài sản gồm:
– Tiền và các khoản tương đương tiền: tại thời điểm 31/12/2023 là 17,000 tỷ đồng, giảm 5,852 tỷ đồng (tương đương 25.61%) so với năm 2022, cụ thể: tuy tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn tăng từ 253 tỷ đồng lên 672 tỷ đồng nhưng các khoản tương đương tiền (gồm tiền gửi có kỳ hạn 03 tháng với số tiền là 2.734.629.695.509 VND (tại ngày 31 tháng 12 năm 2022: 2.734.629.695.509 VND) tại Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Đại Dương Oceanbank – Chi nhánh Quảng Ngãi) giảm từ 22,599 tỷ đồng xuống 16,326 tỷ đồng. Một trong những lý do đằng sau sự sụt giảm này là do Oceanbank chưa thực hiện giải tỏa khoản tiền gửi 2,734 tỷ đồng cho BSR do thực hiện chỉ đạo của NHNN Việt Nam. Khoản tiền này được Ban Tổng Giám đốc Công ty đoán sẽ được giao dịch trở lại trong tương lai khi có những quy định cụ thể của NHNN.
– Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: tại thời điểm 31/12/2023 là 21,121 tỷ đồng, chiếm 24.39% tổng tài sản, tăng 18,949 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 872.33%). Đây là các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn là các khoản tiền gửi của Công ty tại các ngân hàng thương mại có kỳ hạn gốc trên 3 tháng và thời hạn còn lại không quá 12 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
– Các khoản phải thu ngắn hạn tại thời điểm 31/12/2023 của Công ty là 14,954 tỷ đồng chiếm 17.27% tổng tài sản; giảm 1,598 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 9.66%), bao gồm: các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng 13,986 tỷ, trả trước người bán 539 tỷ, các khoản phải thu ngắn hạn khác 431 tỷ, các khoản dự phòng (-3) tỷ và tài sản chờ xử lý không đáng kể.
+ Phải thu ngắn hạn của khách hàng: tại 31/12/2023 là 13,986 tỷ, giảm 2,111 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 13.12%), trong đó, khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng là Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam là 5,414 tỷ đồng, chiếm 38.71%, khoản phải thu các khách hàng khác 1,085 tỷ đồng và khoản phải thu bên liên quan (gồm Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là Chủ sở hữu và Các Công ty trong cùng Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) trị giá 4,679 tỷ đồng.
+ Trả trước cho người bán ngắn hạn: tại thời điểm 31/12/2023 của Công ty là 539 tỷ đồng, tăng 189 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 54.21%). Trong đó, khoản trả trước cho người bán ngắn hạn ngoài bên liên quan trị giá 272 tỷ đồng, chủ yếu là khoản trả trước gần 51 tỷ đồng của EXTAP A Division of ExxonMobil Asia Pacific Pte Ltd., khoản trả trước 49.6 tỷ đồng của Công ty Cổ Phần Dịch vụ Kỹ thuật Năng lượng và 141 tỷ của các đối tượng khác Bên cạnh đó, khoản trả trước cho các bên liên quan trị giá 267 tỷ đồng.
+ Phải thu ngắn hạn khác tại thời điểm 31/12/2023 của Công ty là 431 tỷ đồng, tăng 326 tỷ đồng (tương ứng 309.63%) trong năm 2022, chủ yếu là khoản phải thu lãi tiền gửi 393 tỷ đồng.
+ Khoản dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi tại thời điểm 31/12/2023 của Công ty là 3 tỷ đồng, tăng 2.9 tỷ đồng (tương ứng 810.44%) so với năm 2022.
– Hàng tồn kho của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 15,530 tỷ đồng, chiếm 17.94% tổng tài sản của Công ty, giảm 1,278 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 7.6%). Trong đó, hàng mua đang đi đường trị giá 6,002 tỷ đồng (giảm 1,546 tỷ đồng), nguyên vật liệu trị giá 4,882 tỷ đồng, công cụ dụng cụ trị giá 2,203 tỷ đồng và thành phẩm trị giá 1,374 tỷ đồng. Dầu thô – nguyên liệu chính phục vụ cho hoạt động của NMLD Dung Quất – được cung cấp bởi nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước như: PVOIL, Chevron, Novel, Freepoint, Meridian và McQuilling. Trong đó, Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) là nhà cung ứng dầu thô lớn nhất cho BSR thời gian qua, theo hợp đồng liên kết chuỗi, hợp đồng dài hạn và hợp đồng chuyến.
Ngoài ra, công ty có 72 tỷ đồng tài sản ngắn hạn khác, giảm 11 tỷ đồng (tương ứng 13.41%) so với 2022, bao gồm chi phí trả trước ngắn hạn 66 tỷ đồng, chủ yếu là bảo hiểm con người cùng bảo hiểm rủi ro tài sản 49 tỷ đồng và thuế và các khoản phải thu nhà nước 6 tỷ.
b. Đánh giá tài sản dài hạn:
Tài sản dài hạn của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 17,914 tỷ đồng, chiếm 20.69% tổng tài sản Công ty, giảm 2,102 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 10.5%). Trong đó: Tài sản cố định hữu hình là 15,826 tỷ đồng (chiếm 18.28% tổng tài sản), tài sản cố định vô hình là 244 tỷ, tài sản dở dang dài hạn là 1,195 tỷ (chiếm 1.38% tổng tài sản), phải thu dài hạn 548 tỷ, đầu tư tài chính dài hạn 9.7 tỷ và tài sản dài hạn khác là 89 tỷ.
– Tài sản cố định hữu hình của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 15,826 tỷ đồng, giảm 2,058 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 11.51%), chủ yếu bao gồm: (1) Nhà và vật kiến trúc; (2) Máy móc, thiết bị; (3) Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn; (4) Thiết bị văn phòng và (5) Tài sản cố định hữu hình khác. Trong đó, đa số là máy móc, thiết bị trị giá 12,264 tỷ đồng và nhà xưởng, vật kiến trúc trị giá 3,198 tỷ đồng.
– Tài sản cố định vô hình của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 khoảng 244 tỷ đồng, giảm 54 tỷ đồng (28.56%) so với 2022, gồm: (1) Bản quyền, bằng sáng chế 99 tỷ đồng; (2) Phần mềm máy tính 142 tỷ đồng; (3) Tài sản cố định vô hình khác 3 tỷ đồng.
– Chi phí xây dựng cơ bản dở dang của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 1,195 tỷ đồng, giảm 79 tỷ đồng (tương ứng 6.23%) so với năm 2022, chủ yếu là chi phí dự án nâng cấp mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất 1,150 tỷ đồng nhằm nâng cao công suất chế biến của nhà máy. Vốn đầu tư của dự án đã được điều chỉnh thành 31.255 tỷ VND, tương đương 1,257 tỷ USD, theo cơ cấu vốn chủ sở hữu/vốn vay là 40/60 (cơ cấu này được xem xét điều chỉnh cho phù hợp với thực tế khả năng cân đối nguồn và đem lại hiệu quả cao hơn), dự kiến đưa vào vận hành năm 2028.
– Chi phí trả trước dài hạn là 79 tỷ đồng, giảm 23 tỷ đồng (tương ứng 23.03%) so với năm 2022, chủ yếu là chi phí hóa chất xuất dùng 64 tỷ đồng.
2.1.2. Phân tích nguồn vốn:
Tại thời điểm 31/12/2023, tổng nguồn vốn của BSR là 86,594 tỷ đồng, trong đó: Nợ phải trả là 29,325 tỷ đồng chiếm 33.87% tổng nguồn vốn của BSR; Vốn chủ sở hữu là 57,268 tỷ đồng chiếm 66.13%.
(1) Nợ phải trả:
Tính đến 31/12/2023, nợ phải trả của BSR là 29,325 tỷ đồng, trong đó, nợ phải trả ngắn hạn là 28,442 tỷ đồng, nợ phải trả dài hạn là 883 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm 2022, nợ phải trả của BSR đã tăng 7.43%.
a) Nợ ngắn hạn: Tại thời điểm 31/12/2023, Nợ ngắn hạn của BSR là 28,442 tỷ đồng, tăng 2,426 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 9.33%). Trong cơ cấu nợ ngắn hạn, khoản phải trả người bán ngắn hạn 14,616 tỷ đồng chiếm 51.38% tổng giá trị nợ ngắn hạn, vay và nợ thuê tài chính dài hạn trị giá 10,970 tỷ đồng (38.57%), và thuế và các khoản phải nộp Nhà nước là 1,613 tỷ đồng (tương ứng 5.67%).
– Phải trả người bán ngắn hạn của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 14,616 tỷ đồng, giảm 219 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 1.48%), trong đó, phải trả bên liên quan trị giá 7,591 tỷ đồng. Bên cạnh đó, phải trả các người bán ngắn hạn gồm: Novel Energy Trading Pte Ltd. 2,029 tỷ đồng, Công ty Liên doanh điều hành Cửu Long 1,214 tỷ đồng, Công ty Điều hành chung Hoàng Long 1,050 tỷ đồng, Công ty TNHH Dầu khí Việt Nhật 844 tỷ đồng và BCP Trading Pte. Ltd. 602 tỷ đồng. Trong năm 2023, BSR đã thanh toán các khoản phải trả ngắn hạn cho SOCAR Trading Singapore Pte. Ltd., Gunvor Singapore Pte. Ltd. và Vietsea Company Pte. Ltd. Đây đều là những nhà cung ứng dầu thô/dịch vụ cung ứng dầu thô của BSR ở nước ngoài/có liên doanh điều hành với nước ngoài.
– Vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn của Công ty là 10,970 tỷ đồng, chiếm 12.67% tổng nguồn vốn, tăng 2,015 tỷ đồng (tương ứng 22.51%) so với đầu kỳ. Đây là các khoản vay ngân hàng thương mại dưới hình thức tín dụng thư, có thể rút bằng Đồng Việt Nam theo từng hạn mức tín dụng ký kết với ngân hàng, các khoản vay không có tài sản đảm bảo và nợ dài hạn đến hạn phải trả. 

– Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước tại thời điểm 31/12/2023 là 1,613 tỷ đồng, tăng 217 tỷ đồng (15.57%) so với năm 2022.
– Người mua trả tiền trước ngắn hạn của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 246 tỷ đồng, tăng 208 tỷ đồng (tương ứng 550.74%) so với 2022.
– Chi phí phải trả ngắn hạn là 592 tỷ đồng, tăng 162 tỷ (tương ứng 37.97%) so với năm 2022. Đây chủ yếu là lãi vay phải trả 450 tỷ đồng và phải trả chi phí nhãn hiệu 97 tỷ đồng.
– Phải trả ngắn hạn khác của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 56 tỷ đồng, tăng 23 tỷ (72.87%) so với 2022, chủ yếu là khoản nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn trị giá 14 tỷ đồng.
b) Nợ dài hạn: của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 884 tỷ đồng, giảm 398 tỷ đồng, tương ứng 31.31% so với năm 2022, chủ yếu là quỹ phát triển khoa học và công nghệ trị giá 873 tỷ đồng.
2.2.2. Vốn chủ sở hữu: Tại thời điểm 31/12/2023, vốn chủ sở hữu của BSR là 57,268 tỷ đồng (chiếm 66.13% tổng nguồn vốn), tăng 6,078 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 11.87%). Trong đó: Vốn góp của chủ sở hữu (cổ phiếu phổ thông có quyền biểu quyết) là: 31,004 tỷ đồng; quỹ đầu tư phát triển là 10,047 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế chưa phân phối là 16,340 tỷ đồng, quỹ khác 0.106 tỷ đồng và lợi ích cổ đông không kiểm soát -124.5 tỷ đồng.
Qua bảng cân đối kế toán của BSR ta thấy, cuối năm 2023, tổng tài sản hợp nhất của BSR tăng 10.33%. Tài sản của công ty tập trung chủ yếu là đầu tư tài chính ngắn hạn chiếm khoảng 24.39% tổng tài sản, tiền và các khoản tương đương tiền chiếm 19.63%, tài sản cố định chiếm 18.56% tổng tài sản, hàng tồn kho chiếm gần 18% và các khoản phải thu ngắn hạn chiếm 17.27%.
Về nguồn vốn, nguồn vốn của BSR chủ yếu đến từ vốn chủ sở hữu (chiếm 66.13%), nợ phải trả chỉ chiếm khoảng ⅓ tổng nguồn vốn của BSR.
2.3. Kết quả hoạt động SXKD:
Đơn vị: Triệu đồng

Theo Nghị quyết số 2676/NQ-BSR ngày 13/04/2023 của Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2023 đã ủy quyền cho HĐQT BSR phê duyệt điều chỉnh kế hoạch năm 2023, BSR đặt kế hoạch tổng doanh thu 145,102 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế 4,867 tỷ đồng. Cuối năm 2023, tổng doanh thu của BSR đạt 150,116 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế 8,592 tỷ đồng, cho thấy BSR đã vượt kế hoạch đặt ra.
Doanh thu của công ty đến từ việc bán các sản phẩm lọc hóa dầu, nhiên liệu sinh học và sản xuất bao bì cũng như thương mại dịch vụ. Kết quả kinh doanh theo bộ phận lần lượt như sau: (1) Kinh doanh sản phẩm lọc hóa dầu thu về 8,164 tỷ đồng; (2) Kinh doanh nhiên liệu sinh học lỗ 72 tỷ đồng do chi phí sản xuất cao trong khi doanh thu thuần không đáng kể; (3) Kinh doanh sản xuất bao bì và thương mại dịch vụ thu về 12 tỷ đồng.
Doanh thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ năm 2023 là 147,423 tỷ đồng, giảm 19,703 tỷ đồng (tương đương 11.79%) so với cùng kỳ năm 2022. Mặt hàng được tiêu thụ nhiều nhất là Diesel DO mang về cho BSR 57,735 tỷ đồng, tiếp đó là Xăng Mogas 95 mang về 42,238 tỷ đồng.
– Giá vốn hàng bán là 137,663 tỷ đồng, giảm 13,363 tỷ đồng (tương đương 8.85%) so với năm 2022.
– Chi phí kinh doanh có mức tăng đáng kể:
+ Chi phí bán hàng tại thời điểm 31/12/2023 là 1,032 tỷ đồng, tăng 123 tỷ đồng, tương ứng 14%.
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp tại thời điểm 31/12/2023 là 623 tỷ đồng, tăng 108 tỷ đồng, tương ứng 21%.
+ Xét theo yếu tố, chi phí nguyên vật liệu là 139,744 tỷ đồng, chiếm 96% tổng chi phí sản xuất, kinh doanh.
– Biên lợi nhuận gộp năm 2023 là 6%, tăng 2% so với năm 2022. Vào Q3/2023, biên lợi nhuận gộp của BSR tăng lên 10% nhờ thị trường thuận lợi cùng sự ổn định trong sản xuất kinh doanh, biên lợi nhuận gộp của Công ty đạt mức 10%, ghi nhận lợi nhuận gộp là hơn 3,6 nghìn tỷ đồng, đóng góp lớn vào kết quả kinh doanh tích cực của Công ty.
+ Doanh thu đến từ hoạt động tài chính tại thời điểm 31/12/2023 của BSR là 2,652 tỷ đồng, tăng 902 tỷ đồng (tương đương 52%) so với năm 2022, chủ yếu đến từ lãi tiền gửi ngân hàng 1,599 tỷ đồng và lãi chênh lệch tỷ giá 1,052 tỷ đồng.
– Chi phí tài chính tại thời điểm 31/12/2023 là 1,154 tỷ đồng, tăng 231 tỷ đồng, tương đương 25%, so với 2022, chủ yếu là lỗ chênh lệch tỷ giá 853 tỷ đồng.
– Thu nhập khác là 40 tỷ đồng, giảm 46 tỷ đồng (tương ứng 54%) so với cùng kỳ năm trước do sự sụt giảm đến từ chênh lệch thừa do kiểm kê kho thành phẩm từ 63 tỷ đồng xuống 26 tỷ đồng.
+ Lợi nhuận sau thuế hợp nhất năm 2023 là 8,593 tỷ đồng, giảm 6,076 tỷ đồng (tương ứng 41%) so với năm 2022, tuy nhiên vẫn vượt kế hoạch điều chỉnh 76.5%. Công ty tiếp tục duy trì mức lợi nhuận cao đạt được nhờ diễn biến thị trường tương đối thuận lợi cũng như những nỗ lực trong việc cải tiến công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm và tối ưu vận hành.
Nhìn chung, có thể thấy, doanh thu của BSR chủ yếu đến từ việc kinh doanh sản phẩm hoá lọc dầu với các sản phẩm nổi bật như Diesel DO, xăng Mogas 95, xăng Mogas 92…, không có doanh thu đột biến phát sinh.
2.4. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của công ty đến 31/12/2023 là 11,673 tỷ đồng, tăng 4,585 tỷ đồng, tương đương 65% so với năm 2022.
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư là -17,874 tỷ đồng, giảm 20,569 tỷ đồng, tương đương 763% so với năm 2022.
Lưu chuyển tiền thuần tư hoạt động tài chính là 176 tỷ đồng, tăng 3,087 tỷ đồng, tương đương 95% so với năm 2022.
2.5. Chỉ số tài chính:
3. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NĂM 2023 VÀ TRIỂN VỌNG NĂM 2024 CỦA BSR:
3.1. Tổng quan thị trường dầu khí năm 2023:
Năm 2023, trong bối cảnh kinh tế Việt Nam chịu nhiều tác động từ sự ảm đạm của nền kinh tế thế giới. Là ngành quan trọng và có nhiều đóng góp vào nền kinh tế, ngành lọc dầu chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những bất ổn này.
Có nhiều yếu tố tác động đến sự biến động liên tục của giá dầu như: tình hình chính trị phức tạp tại các trung tâm năng lượng thế giới và Biển Đông, tốc độ dịch chuyển năng lượng nhanh, biến động lớn về cung – cầu và giá các sản phẩm năng lượng suy giảm mạnh so với năm 2022, khó khăn khi không tiếp cận được nguồn vốn tín dụng, siết chặt công tác kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh xăng dầu… Trong đó, xung đột Nga-Ukraine và các lệnh trừng phạt liên quan là yếu tố chính ảnh hưởng đến giá dầu trong năm 2023; đồng thời, Các quốc gia phương Tây áp đặt lệnh cấm hoặc hạn chế nhập khẩu dầu mỏ của Nga, khiến thị trường phải điều chỉnh. Trong bối cảnh đó, OPEC+ tổ chức các cuộc họp định kỳ để điều chỉnh sản lượng nhằm hỗ trợ giá cả.
BSR ghi nhận: “Trong nửa đầu năm 2023, giá dầu chịu áp lực giảm do tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc không như kỳ vọng, các đợt tăng lãi suất của các Ngân hàng TW lớn như FED, ECB, BOE và khủng hoảng ngân hàng khi Silicon Valley Bank, Signature Bank, Credit Suisse và First Republic Bank vỡ nợ. Mặc dù, ngày 02/4, OPEC+ bất ngờ công bố cắt giảm sản lượng dầu tự nguyện bổ sung với tổng khối lượng là 1,66 triệu thùng/ngày và sẽ có hiệu lực từ tháng 5/2023 đến cuối năm 2023 nhưng sau khi tăng vài phiên thì giá dầu lại tiếp tục giảm do thị trường lo ngại rằng rủi ro suy thoái kinh tế toàn cầu sẽ làm giảm nhu cầu nhiên liệu.
Đến Quý III/2023 giá dầu tăng mạnh sau khi OPEC+ thống nhất gia hạn chính sách sản lượng hiện tại đến cuối năm 2024 và Saudi Arabia cắt giảm tự nguyện thêm 1 triệu thùng/ngày trong tháng 7/2023 và có thể gia hạn tùy tình hình thị trường. Điều này đã tác động lớn đến hiệu quả SXKD của Công ty, lợi nhuận sau thuế hợp nhất Quý III/2023 là 3,235 tỷ đồng, trong khi lợi nhuận 6 tháng đầu năm là 2,951 tỷ đồng, cao hơn 109.6%.
Từ tháng 10/2023 đến nay giá quay đầu giảm lại, ngày 16/11, giá dầu giảm mạnh xuống còn 78.15 USD/bbl. Giá dầu thô và sản phẩm bình quân năm 2023 giảm mạnh so với năm 2022 nhưng vẫn cao hơn so với kế hoạch năm 2023 đây là nguyên nhân tích cực chính đẩy lợi nhuận của công ty vượt xa kế hoạch năm 2023 được ĐHĐCĐ phê duyệt và vượt kế hoạch năm 2023 điều chỉnh.” (Báo cáo thường niên BSR năm 2023)
“Tại Châu Á, crack spread diesel và nhiên liệu bay phục hồi tốt từ mức đáy trong Q2/2023 và lần lượt đạt mức 28.4 USD/thùng (+99.3% sv quý trước) và 25.8 USD/thùng (+77.3% sv quý trước) trong Q3/2023 dưới tác động của việc khan hiếm nguồn cung, giúp BSR ghi nhận biên lợi nhuận cải thiện lên mức 10.1% (Q3/2022: 1.7%) và lợi nhuận ròng tăng 581% so với cùng kỳ.”, theo MBS Research.
Có thể thấy, mặc dù ngành Dầu khí trải qua nhiều biến động trong năm 2023, sự kiện giá dầu tăng trong Q3/2023 dưới sự tác động của OPEC+ cùng việc đặt ra kế hoạch phù hợp đã giúp BSR duy trì doanh thu và lợi nhuận như mong đợi.
3.2. Hoạt động kinh doanh của CTCP Lọc hoá dầu Bình Sơn (BSR) năm 2023:
Năm 2023 ghi nhận nhiều kết quả tích cực trong hoạt động kinh doanh của BSR. Công ty đạt mức lợi nhuận sau thuế cao nhất kể từ khi cổ phần hóa, Nhà máy vận hành liên tục và an toàn.
Tuy thị trường dầu mỏ tiếp tục có sự biến động lớn, diễn biến phức tạp và khó tiên đoán trong năm 2023 do tác động của nhiều yếu tố tích cực và tiêu cực đan xen như việc OPEC+ cắt giảm nguồn cung, tăng trưởng nguồn cung từ các nước ngoài OPEC+ và các thành viên OPEC+ không bị hạn ngạch như Mỹ, Brazil, Iran…; lo ngại về mức độ phục hồi kinh tế thế giới, đặc biệt là sự phục hồi kinh tế của Trung Quốc không như kỳ vọng; những diễn biến phức tạp trên thị trường tài chính toàn cầu; căng thẳng địa chính trị tại nhiều khu vực trên thế giới… tác động lớn đến giá dầu thô và giá sản phẩm và ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, BSR đã chủ động, linh hoạt trong việc tối ưu hóa cơ cấu sản phẩm và tối ưu hóa công suất vận hành trên cơ sở cung cầu của thị trường. Tăng cường công tác điều độ nhập dầu thô và xuất bán sản phẩm và tồn kho hợp lý để giảm thiểu tác động biến động giá. Công tác kiểm soát, tối ưu chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh được thực hiện thường xuyên và liên tục. Vì vậy, kết quả sản xuất kinh doanh năm 2023 đạt mức cao với lợi nhuận sau thuế 8.593 tỷ đồng.
Về việc thực hiện các dự án đầu tư, BSR chủ yếu thực hiện những công việc, dự án trong kế hoạch chuyển tiếp từ năm 2022 nên tỷ lệ giải ngân còn thấp, nguyên nhân chủ yếu do tiến độ triển khai đầu tư Dự án NCMR NMLD Dung Quất bị chậm. Ngoài ra, một số dự án khác vẫn đang trong giai đoạn thẩm định hồ sơ Báo cáo nghiên cứu khả thi/ Báo cáo kinh tế kỹ thuật, triển khai các công việc chuẩn bị đầu tư. Đặc biệt với dự án NCMR NMLD Dung Quất, BSR đã thực hiện hoàn thiện các biên bản ghi nhận các nội dung đã làm việc và chuẩn bị các nội dung chưa thống nhất sẽ tiếp tục được trao đổi, làm rõ cùng các nhà bản quyền công nghệ, xây dựng Kế hoạch Chiến lược thu xếp vốn cho Dự án để làm cơ sở triển khai các bước tiếp theo với mục tiêu xác định rõ được khối lượng, chi phí vốn vay cho các khoản vay trước thời điểm ký hợp đồng EPC dự kiến trong năm 2025.
3.3. Triển vọng kinh doanh và thách thức của CTCP Lọc hoá dầu Bình Sơn (BSR) và Nhà máy lọc dầu Dung Quất năm 2024:
Theo nhận định của Công ty CP Chứng khoán Dầu khí (PSI), nguồn cung dầu thô trên thế giới được kỳ vọng sẽ tiếp tục ở mức thấp trong năm 2024 do động thái duy trì cắt giảm sản lượng tự nguyện từ phía OPEC+, đồng thời hoạt động sản xuất công nghiệp và nhu cầu du lịch được cải thiện, tồn kho dầu suy giảm tại Mỹ và OECD; biến động địa chính trị kéo dài (Nga – Ukraine) và khu vực Trung Đông, khả năng neo cao của giá dầu thô vẫn sẽ tiếp tục.
Nhiều thách thức được đặt ra BSR. Tình hình chính trị căng thẳng và việc cắt giảm tự nguyện dự kiến kéo dài đến hết năm 2024 khiến cân bằng dầu thô toàn cầu dự kiến sẽ ngày càng trở nên eo hẹp, nhất là vào mùa cao điểm đi lại. Đối với việc tiêu thụ sản phẩm xăng dầu từ năm 2024, quy định tại Quyết định 53/2012/TTg-QĐ, bắt buộc thị trường dừng lưu hành xăng Mogas 92 và chuyển hoàn toàn sang xăng E5 RON92 kể từ đầu năm 2018. Với chính sách sử dụng xăng nhiên liệu sinh học nên cơ cấu xăng Mogas 95 và xăng Mogas 92/90 có sự dịch chuyển đáng kể, quy định tiêu thụ xăng nhiên liệu sinh học đã khiến cho nhu cầu đối với xăng Mogas 92 giảm sút rõ rệt, trong khi đó, đây lại là một trong những sản phẩm mũi nhọn của BSR. Ngoài ra, còn một số thách thức như: rủi ro suy thoái kinh tế toàn cầu, xu thế chuyển dịch năng lượng, sự cạnh tranh khốc liệt giữa sản phẩm lọc dầu của BSR với sản phẩm của NSRP và các sản phẩm nhập khẩu…
Bên cạnh đó, nhiều cơ hội cũng được mở ra cho BSR: tình hình chính trị – xã hội trong nước ổn định, kinh tế đang dần phục hồi và phát triển; nhu cầu tiêu dùng và đi lại sẽ tăng cao; sự hoàn thiện trong hệ thống quản lý và vận hành…
“Crack spread diesel và nhiên liệu bay được kỳ vọng sẽ duy trì tích cực trong năm 2024 (+7.7% và +12.9% svck) nhờ nguồn cung tiếp tục khan hiếm; ngoài ra, crack spread xăng cũng được kỳ vọng hồi phục dần từ Q1/2024 sau chuỗi giảm sâu trong những ngày đầu Q4/2023 nhờ nhu cầu đi lại trên thế giới tăng trở lại khi mùa đông kết thúc”, theo MBS Research.
Trong bối cảnh đó, BSR quyết định ưu tiên tập trung vận hành Nhà máy lọc dầu (NMLD) Dung Quất an toàn, ổn định, liên tục ở công suất, cơ cấu sản phẩm tối ưu phù hợp với nhu cầu và tình hình thị trường, tối đa hoá hiệu quả sản xuất kinh doanh (SXKD) của BSR, kết quả là NMLD Dung Quất được vận hành ở mức 112% công suất thiết kế tính đến nửa đầu Q1/2024. Dự án NCMR NMLD Dung Quất với mục tiêu nâng công suất thêm 15.5% vào năm 2028 sẽ cải thiện vị thế và khả năng lọc dầu của BSR so với các nhà máy lọc dầu trong khu vực, đồng thời đáp ứng nhu cầu sản phẩm lọc hóa dầu nội địa đang ngày càng tăng. Đây là một trong những động lực tăng trưởng của BSR.
Ngoài ra, BSR chú trọng linh hoạt cơ cấu sản phẩm theo nhu cầu thị trường, tận dụng tối đa điều kiện thuận lợi của thị trường, thời cơ giá sản phẩm theo từng thời điểm để gia tăng doanh thu, lợi nhuận, đảm bảo phát triển vốn; tập trung nguồn lực để thực hiện công tác Bảo dưỡng tổng thể lần 5 (TA5) đảm bảo an toàn, chất lượng, tối ưu chi phí và tiến độ so với kế hoạch được duyệt; thực hiện tốt công tác an ninh, an toàn, sức khỏe, môi trường, phòng chống cháy nổ tại Nhà máy; chủ động, linh hoạt trong công tác mua dầu thô, đảm bảo nguồn dầu thô cung cấp cho vận hành Nhà máy… và đặc biệt là đẩy mạnh công tác chuyển đổi số nhằm thúc đẩy các định hướng của BSR theo chiến lược phát triển Công ty, quản trị rủi ro, mô hình sản xuất thông minh và đảm bảo hiệu quả các nghiệp vụ cốt lõi của doanh nghiệp.
Như vậy, BSR vẫn đang bám sát kế hoạch hoạt động đã đề ra và đang trong quá trình đạt được những thành tựu nhất định. Dù có nhiều thách thức, BSR kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trưởng trong thời gian tới với sự phục hồi dần của thị trường dầu thô, cùng việc đầu tư dự án NCMR NMLD Dung Quất và các kế hoạch sản xuất và vận hành.
4. ĐÁNH GIÁ CHUNG MÃ CỔ PHIẾU BSR:
– BSR có tình hình tài chính ổn định, đặc biệt, BSR đã tích lũy được số dư tiền ròng dồi dào lên tới 27.400 tỷ đồng (1,12 tỷ USD), đảm bảo cho nhu cầu đầu tư lớn trong thời gian tới.
– BSR là doanh nghiệp có kết quả kinh doanh độ nhạy cao với giá dầu do 2 yếu tố: (1) Tồn kho chủ yếu là dầu thô, biến động giá dầu sẽ ảnh hưởng đến tồn kho của công ty; (2) Giá dầu biến động thường ảnh hưởng đến giá thành phẩm của công ty (xăng, sản phẩm hóa dầu). Giá dầu trung bình năm 2024 ước tính dao động ở mức cao sẽ tiếp tục giúp kết quả kinh doanh thực tế của BSR được duy trì ở mức ổn định cao hơn kế hoạch. Trường hợp giá dầu thô giảm sẽ làm giảm giá các sản phẩm lọc dầu đầu ra đồng thời làm giảm giá trị hàng tồn kho, khiến công ty phải trích lập dự phòng, làm suy giảm lợi nhuận gộp. Do đó khi giá dầu tăng BSR cũng sẽ ghi nhận lợi nhuận khả quan và ngược lại.
– BSR đã chuẩn bị cho kịch bản biến động thế giới gây gián đoạn việc nhập khẩu xăng, dầu, dẫn tới tình trạng thiếu hụt cục bộ. Về đầu ra, BSR thực hiện loạt biện pháp để vận chuyển tối đa có thể lượng hàng cho các khách hàng nhằm hạ tồn kho của nhà máy, kịp thời cung ứng đến thị trường trong bối cảnh nhu cầu tăng cao dịp cuối năm. BSR đã triển khai điều hành linh hoạt việc tiêu thụ sản phẩm, bám sát diễn biến thị trường, khối lượng hàng tồn kho và tiến độ nhận hàng của khách hàng để ứng phó kịp thời khi thị trường phát sinh tình huống bất lợi. Về đầu vào, BSR đa dạng hóa nguồn nguyên liệu, tối đa tiêu thụ dầu thô, nguyên liệu trung gian trong nước để tăng lợi ích của chuỗi liên kết trong ngành, tiếp tục tìm kiếm các đối tác cung cấp dầu thô, tiêu thụ sản phẩm để không ngừng mở rộng mạng lưới và có quan hệ tốt với các nhà cung cấp và khách hàng tiềm năng, giúp ổn định nguồn cung dầu thô, đầu ra sản phẩm.
– Dù lợi nhuận năm 2024 dự kiến giảm do đợt bảo dưỡng nhà máy lọc dầu Dung Quất lần thứ 5 (50 ngày), BSR vẫn có khả năng sinh lời và hiệu suất vận hành của BSR cao hơn so với các công ty cùng ngành trong khu vực. Trong quá khứ, hai lần nâng cấp NMLD Dung Quất đều mang lại kết quả tích cực cho BSR. NMLD Dung Quất hoàn thành đợt bảo dưỡng tổng thể định kỳ lần 3 và ngày 25/07/2023, giúp vận hành và cho ra sản phẩm sớm hơn 10 ngày so với kế hoạch, góp phần tăng thêm doanh thu cho BSR hơn 1.507 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 303 tỷ đồng và mang lại thêm gần 300 tỷ đồng lợi nhuận. Đồng thời cùng với các chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh rất tốt trong 6 tháng đầu năm 2017, BSR đã nộp ngân sách nhà nước 4.600 tỉ đồng (vượt 1.000 tỷ đồng so với kế hoạch) và tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ sở hữu (ROE) đạt 11,5% là rất cao trong ngành lọc hóa dầu, góp phần thành công mục tiêu cổ phần hóa chào bán IPO sắp tới của BSR trong năm 2017. Ngày 01/10/2020, NMLD Dung Quất đã hoàn thành đợt bảo dưỡng thứ 4 trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn ra phức tạp, tất cả các phân xưởng của Nhà máy đã được nạp liệu, khởi động lại an toàn, đánh dấu kết thúc đợt BDTT NMLD Dung Quất lần 4 thành công đạt 4 mục tiêu đề ra: An toàn, chất lượng, tiến độ và tối ưu chi phí. Vì vậy, lần bảo dưỡng tổng thể NMLD Dung Quất lần 5 được kỳ vọng sẽ mang lại nhiều cơ hội cho BSR.