CTCP Thép Nam Kim
1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NKG
1.1. Thông tin chung
• Tên đầy đủ: CTCP Thép Nam Kim
• Tên viết tắt: NAKISCO
• Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số: số 3700477019 do Phòng Đăng ký Kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Bình Dương cấp lần đầu ngày 23/12/2002, đăng ký thay đổi lần thứ 25, ngày 25/07/2019.
• Vốn đầu tư của chủ sở hữu: 2.632.778.060.000 VNĐ (Hai nghìn sáu trăm ba mươi hai tỷ bảy trăm bảy mươi tám triệu sáu mươi ngàn đồng) tính đến ngày 31/12/2022.
• Địa chỉ: Lô A1, Đường Đ2, Khu công nghiệp Đồng An 2, Phường Hòa Phú, Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương, Việt Nam
• Điện thoại: +84 27 43 748 848 – Fax: +84 27 43 748 868
• Email: info@namkimgroup.vn
• Website: www.tonnamkim.com/
• Mã cổ phiếu: NKG
1.2. Quá trình hình thành và phát triển
Năm 2002, Thép Nam Kim được thành lập. Năm 2011, doanh nghiệp chính thức được niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE với mã cổ phiếu NKG. Tính đến năm 2021, Công ty có 04 nhà máy sản xuất các sản phẩm tôn mạ, ống thép với công suất sản xuất lên đến 1,2 triệu tấn/năm. Do bối cảnh thị trường không thuận lợi, hiện tạm ngừng đầu tư dự án Nhà máy Tôn Nam Kim Phú Mỹ.
1.3. Lĩnh vực kinh doanh
Thép Nam Kim sở hữu 4 dây chuyền sản xuất. Thứ nhất là dây chuyền tẩy gỉ thép trên dây chuyền hiện đại với công suất 900000 tấn/ năm. Thứ hai là dây chuyền cán nguội với công suất 900000 tấn/ năm. Thứ 3 là dây chuyền mạ lạnh hoặc mạ kẽm với công suất là 1200000 tấn/ năm. Và cuối cùng là 2 dây chuyền mạ màu công suất 180000 tấn/ năm.
Thép cuộn cán nóng (HRC) là nguyên liệu đầu vào cho sản xuất tôn mạ và ống thép của Nam Kim. Nguồn nguyên vật liệu đầu vào được nhập từ các tập đoàn lớn như Nippon Steel (Nhật Bản), Hyundai Steel (Hàn Quốc), CSC (Đài Loan), Formosa (Việt Nam) …
Thép Nam Kim sản xuất và phân phối các loại tôn lạnh, tôn mạ kẽm, tôn mạ màu và các loại sản phẩm thép công nghiệp. Trong đó, tôn mạ và ống thép là hai sản phẩm chính của Nam Kim, trong đó tôn mạ luôn chiếm tỷ trọng sản lượng lớn hơn vượt trội. Trong năm 2022, sản lượng tiêu thụ tôn mạ và ống thép của Thép Nam Kim lần lượt đạt 706,700 tấn (-24.2% so với cùng kỳ) và 168,600 tấn (+14.4% so với cùng kỳ).
Hệ thống đại lý phân phối của NKG rộng khắp thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và các tỉnh lân cận. Hiện tại sản phẩm Tôn Nam Kim được tin dùng toàn quốc và xuất khẩu đến hơn 65 quốc gia và vùng lãnh thổ.
1.4. Các công ty con và công ty liên kết
NKG có 4 công ty con với tỷ lệ sở hữu 100% là: Công ty Một thành viên ống thép Nam Kim, Công ty Một thành viên Ống thép Nam Kim Chu Lai, Công ty Một thành viên Tôn Nam Kim Phú Mỹ và Công ty Dae Myung Việt Nam.
1.5. Cơ cấu cổ đông
Về cơ cấu cổ đông của NKG, ban lãnh đạo nắm giữ 18.63% vốn điều lệ trong đó
ông Hồ Minh Quang – Chủ tịch HĐQT đang giữ tỷ lệ 14.2%. Bên cạnh đó, nhóm
cổ đông là các tổ chức nắm giữ 16.52%, cổ đông lớn có thể kể đến như Unicoh
Speciality Chemicals Co Ltd, CTCP Đầu tư Thương mại SMC, Vietnam Enterprise
Investments Ltd… Nhà đầu tư nước ngoài sở hữu 10.62% và còn lại thuộc về
các cổ đông khác.
1.6. Ban lãnh đạo
Chủ tịch Hội đồng Quản trị là ông Hồ Minh Quang từ tháng 10 năm 2009, cùng với các thành viên HĐQT là ông Võ Hoàng Vũ, ông Nguyễn Vinh An, bà Nguyễn Ngọc Ý Nhi và ông Võ Thời.
2. TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY
2.1. Bảng cân đối kế toán 

TÀI SẢN
Tổng tài sản của Thép Nam Kim năm 2022 trị giá 13460 tỷ đồng, giảm gần 13% so với năm trước, trong đó tài sản ngắn hạn vẫn chiếm phần lớn với tỷ lệ 77,37% (trị giá 10414 tỷ đồng) và tài sản dài hạn chiếm 22,63% (trị giá 3045 tỷ đồng). Mặc dù thấp hơn so với năm 2021 nhưng nhìn chung tổng tài sản hay tài sản ngắn hạn đều vượt trội so với giai đoạn 2017-2020.
TÀI SẢN NGẮN HẠN
Lượng hàng tồn kho lớn có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán
Thép Nam Kim nắm giữ tiền và các khoản tương đương tiền trị giá 1005 tỷ đồng (chiếm gần 10% tài sản ngắn hạn và tăng 253 tỷ đồng so với năm 2021).
Bên cạnh đó, các khoản phải thu ngắn hạn cũng chiếm phần lớn là 14,56% tài sản ngắn hạn, giảm hơn 20% so với năm trước, bao gồm chủ yếu là khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng (trị giá 1060 tỷ đồng) và trả trước cho người bán ngắn hạn (trị giá 438 tỷ đồng). Bên cạnh đó, để phòng vệ rủi ro, doanh nghiệp đã lập dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi là 8,8 tỷ đồng.
Thép Nam Kim có lượng hàng tồn kho vẫn ở mức cao trị giá 7000 tỷ đồng, chiếm 67,22% tài sản ngắn hạn và giảm hơn 15% so với năm trước.
Hàng tồn kho phần lớn là thành phẩm trị giá 3464 tỷ đồng chiếm gần 60% hàng tồn kho, giảm 12,95% so với cùng kỳ, bên cạnh đó có trích dự phòng giảm giá thành phẩm là hơn 336 tỷ đồng. Vòng quay hàng tồn kho năm 2022 giảm về mức 118 ngày (so với 126 ngày năm 2021), điều này khiến cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp bị ảnh hưởng tiêu cực đặc biệt trong thời điểm nhu cầu tiêu thụ giảm
TÀI SẢN DÀI HẠN
Về phần tài sản dài hạn, tài sản cố định của NKG trị giá 2588 tỷ đồng, chiếm gần 85% tài sản dài hạn và giảm 6.58% so với năm 2021. Trong đó, tài sản cố định hữu hình ghi nhận giảm gần 11% so với năm trước chủ yếu do trích khấu hao hơn 368 tỷ đồng và ghi nhận chuyển từ chi phí xây dựng dở dang cơ bản hơn 91 tỷ đồng. Về cơ bản, tài sản dài hạn của thép Nam Kim không có nhiều thay đổi do ảnh hưởng tiêu cực của tình hình vĩ mô nói chung và ngành thép nói riêng nên doanh nghiệp không tiến hành đầu tư nhiều vào các dự án hay tài sản cố định.
Chi phí xây dựng dở dang của dự án nhà máy thép là 218 tỷ đồng, tăng hơn 127% so với cùng kỳ, trong khi đó dừng thi công dự án nhà máy thép Nam Kim.
NGUỒN VỐN
ÁP LỰC NỢ VAY NGẮN HẠN 

Xét đến nguồn vốn của doanh nghiệp,
Tỷ lệ nợ phải trả/tổng tài sản trong năm 2022 đạt 60.5%, giảm nhẹ từ mức 63% năm 2021. Trong cơ cấu nợ phải trả, nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trị giá 8108 tỷ đồng, chiếm gần như 100%, bao gồm hai khoản lớn:
Đầu tiên phải kể đến, Khoản vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn tăng từ 3773 tỷ đồng lên 5111 tỷ đồng, chiếm hơn 63% nợ phải trả ngắn hạn, chủ yếu là vay ngân hàng với mức lãi suất vay VND từ 4,5%/ năm đến 11,5%/ năm và vay USD từ 3,2%/ năm đến 3,8%/ năm với ngày đáo hạn hầu hết vào hết quý II năm 2023.
Chỉ số thanh toán nhanh của NKG ở mốc tương đối thấp trong giai đoạn 2018-2022, thể hiện tài sản ngắn hạn chưa thể bù đắp cho khoản nợ ngắn hạn, bên cạnh đó doanh nghiệp này vay ngắn hạn tương đối nhiều tạo áp lực lớn lên khả năng xoay vòng vốn của doanh nghiệp. Thời gian thu tiền khách hàng bình quân chưa được tối ưu so với các doanh nghiệp cùng ngành. Thép Nam Kim đang vay vốn ngân hàng tương đối nhiều nhưng chưa đầu tư cụ thể vào khoản mục nào.
Khoản phải trả người bán ngắn hạn chiếm hơn 31% nợ ngắn hạn, chủ yếu là khoản phải trả theo cam kết LC Upas. Vòng quay khoản phải trả của doanh nghiệp năm 2022 cũng giảm từ 63 về 44 ngày. Hơn nữa, tập đoàn không có khoản phải trả người bán nào bị quá hạn thanh toán, đảm bảo khả năng thanh khoản của doanh nghiệp
một doanh nghiệp sản xuất mà ko có nợ dài hạn, ko phải là điều tốt
Chỉ trong vòng 5 năm, từ năm 2018 – 2022, Thép Nam Kim đã hoàn tất thanh toán hơn 1,200 tỷ nợ dài hạn. Thép Nam Kim đưa ra chiến lược tăng cường trả nợ vay dài hạn trong khi đó vay các khoản nợ ngắn hạn với lãi suất ưu đãi hơn. Dù chiến lược này làm giảm chi phí vay nợ với cùng một khoản vốn huy động, tuy nhiên doanh nghiệp luôn bị áp lực trước việc ngày đáo hạn thanh toán trước mắt.
Vốn chủ sở hữu của thép Nam Kim giảm từ 5723 tỷ đồng xuống còn 5319 tỷ đồng, trong đó vốn góp chủ sở hữu tăng lên 2,632 tỷ đồng nhờ chia cổ tức bằng cổ phiếu (ông Hồ Minh Quang nắm giữ 14,2%) và lợi nhuận sau thuế chưa phân phối giảm hơn 1000 tỷ đồng.
Có thể thấy cơ cấu nguồn vốn của Thép Nam Kim đang chưa tối ưu khi tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu lớn, bên cạnh đó nợ ngắn hạn tăng lên nhiều so với cùng kỳ. Hàng tồn kho lớn tập trung ở thành phẩm do lượng cầu chung của ngành thép sụt giảm mạnh, trong khi đó các khoản phải thu khách hàng xoay vòng tương đối chậm. Thép Nam Kim có thể đối mặt với những rủi ro trong ngắn hạn với tình hình như trên.
2.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
DOANH THU HOẠT ĐỘNG
GIÁ VỐN HÀNG BÁN TĂNG NHANH HƠN TỐC ĐỘ TĂNG CỦA DOANH THU
Dưới áp lực từ lãi suất và thị trường không còn thuận lợi, doanh nghiệp ghi nhận doanh thu 23128 tỷ đồng, giảm 18,11% so với cùng kỳ và bằng 82,6% kế hoạch.
Giá HRC giảm quá nhanh trong năm 2022 khiến doanh nghiệp trích lập thêm 290 tỷ trong quý 4/2022. Bên cạnh đó, tiếp tục duy trì chính sách bán hàng linh hoạt ở cả thị trường trong nước và xuất khẩu, tỷ trọng doanh thu đến từ thị trường xuất khẩu chiếm trên 57% tổng doanh thu.
Với 16.9% thị phần, Nam Kim là top 3 doanh nghiệp tôn mạ lớn nhất trong năm 2022, chủ yếu đến từ việc Công ty trong giai đoạn 2020 – 2021 tập trung vào thị trường xuất khẩu, tuy nhiên từ giữa năm 2022 Thép Nam Kim đã tăng hơn sự tập trung vào thị trường nội địa nhưng vẫn cần thêm thời gian để trở lại thị phần vốn có.
Bên cạnh đó, mảng ống thép tăng trưởng cao gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng sản lượng ống thép toàn ngành. Qua đó giúp thị phần mảng ống thép của Thép Nam Kim tăng từ 5.4% trong năm 2021 lên 6.4% năm 2022.
Giá vốn thành phẩm đã bán giảm còn 21673 tỷ đồng, giảm hơn 9% so với năm 2021 do sản lượng đầu ra bị ảnh hưởng. Giá thép – tôn mạ giảm quá sâu đã khiến lượng hàng tồn kho của Thép Nam Kim không thể điều chỉnh giá theo kịp, do đó biên lợi nhuận gộp đã giảm mạnh từ 15.1% trong năm 2021 về mức 6.4% trong năm 2022. Bên cạnh đó, giá các nguyên liệu đầu vào như HRC, than nhiệt, vận tải, khí đốt… đều tăng cao hoặc giảm chậm hơn giá bán. Trong năm 2022, chi phí vận tải vẫn ở mức cao, chiếm trên 60% trong hơn 1,200 tỷ chi phí bán hàng của Thép Nam Kim.
CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG
Chi phí bán hàng giảm 195 tỷ đồng và chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 63 tỷ đồng.
DOANH THU TÀI CHÍNH
Doanh thu tài chính tăng gấp đôi lên 302 tỷ đồng, trong đó lãi chênh lệch tỷ giá hối đoái đã thực hiện đạt 271 tỷ đồng tăng gần 50% so với năm 2022) và lãi từ các tài sản tài chính ít rủi ro như tiền gửi và trái phiếu tăng lên 28 tỷ đồng.
CHI PHÍ TÀI CHÍNH
Trong khi đó, chi phí tài chính cũng tăng lên 502 tỷ đồng từ 397 tỷ đồng năm 2021 do tăng chi phí lãi vay gần 45% so với năm 2021 vì các khoản vay ngân hàng ngắn hạn tăng lên 5111 tỷ đồng và lỗ chênh lệch tỷ giá đã thực hiện tăng 107 tỷ đồng. Từ đó, biên lợi nhuận thuần giảm từ 9,04% xuống âm 0.46%
Lợi nhuận sau thuế giảm từ 2225 tỷ đồng xuống -124 tỷ đồng, giảm hơn 105% so với năm 2021 và lần đầu tiên lỗ sau thuế trong 5 năm gần đây từ 2018-2022. Có thể thấy rằng tác động tình hình vĩ mô và ngành đã ảnh hưởng tiêu cực đến Thép Nam Kim, tuy nhiên doanh nghiệp vẫn giữ vững và tiếp tục phát triển thị trường xuất khẩu. Tính đến năm 2022, Công ty đã xuất đi hơn 65 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ngoài ra, Công ty còn có mức thuế chống bán phá giá thấp nhất ở những thị trường như Canada, Mexico, Australia và Malaysia. Qua đó, có lợi thế lớn để bán hàng đi các thị trường này. Thứ 3 là cho ra đời dòng sản phẩm AZ200.
2.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 

Nhìn chung, lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh sụt giảm hơn 519 tỷ đồng xuống -827 tỷ đồng, lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính giảm nhẹ nhưng không đáng kể, giữ ở mức 1049 tỷ đồng. Còn lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư cho thấy dấu hiệu tích cực khi tăng từ -308 tỷ lên 32 tỷ đồng.
3. KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NKG NĂM 2023
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NKG 6 THÁNG ĐẦU NĂM
Báo cáo soát xét 6 tháng đầu năm 2023 cho thấy doanh thu của thép Nam Kim là 5507 tỷ đồng, chỉ đạt 27,54% so với kế hoạch đề ra và lợi nhuận trước thuế là 167 tỷ đồng đạt 41,75% so với kế hoạch đề ra. Xét về cơ cấu sản lượng, trong nửa đầu năm nay, sản lượng tôn mạ và ống thép của Thép Nam Kim chỉ giảm nhẹ, lần lượt đạt hơn 357.400 tấn và 72.900 tấn, lần lượt giảm 13% và giảm 10,3% so với cùng kỳ năm 2022.
Đến hết quý 2 năm 2023, biên lợi nhuận gộp đạt 9.02%, giảm 3,4% so với cùng kỳ năm trước và đã có chiều hướng tích cực trong 4 quý gần nhất khi tốc độ tăng doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng giá vốn. Bên cạnh đó, lợi nhuận sau thuế tăng từ -124 tỷ đồng cuối năm 2022 lên 76 tỷ đồng sau 6 tháng, dù vẫn chưa đạt đủ kế hoạch đề ra.
Tính đến hết Quý 2 2023, NKG tăng đầu tư trái phiếu lên 120 tỷ giá gốc, được phát hành bởi Công ty Bất động sản Hano-vid và hưởng lãi suất 7,3%/năm. Bên cạnh đó, khoản vay ngắn hạn từ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam trị giá 2068 tỷ VNĐ đáo hạn tháng 6 năm 2023, và đến tháng 6 vẫn còn 106 tỷ đồng đáo hạn tháng 8 năm 2023, khoản vay 168 tỷ USD đáo hạn tháng 6 năm 2023 thì theo báo cáo 6 tháng đầu tăng mạnh lên 2678 tỷ USD.
Nhu cầu tiêu thụ thép vẫn “nguội lạnh”
Nhu cầu thép trong nước trong 6 tháng đầu năm sụt giảm do thị trường bất động sản trong nước vẫn đóng băng. Chính phủ cũng đã có những chỉ đạo nhằm thúc đẩy và tháo gỡ khó khăn, tăng khả năng thị trường BĐS sẽ hồi phục trong nửa đầu 2024. Đây là tín hiệu tích cực để doanh nghiệp thép có cơ hội mở rộng sản xuất. Ở thị trường xuất khẩu, mặc dù sản lượng xuất khẩu không biến động nhiều mà giá xuất khẩu lại giảm khiến cho giá trị xuất khẩu thép thành phẩm nhìn chung vẫn giảm. Hơn nữa, các doanh nghiệp thép trong nước còn phải cạnh tranh với thép giá rẻ của Trung Quốc khi nước này liên tục hạ giá thép xuất khẩu. Dự báo, từ nay đến cuối năm, tình hình tiêu thụ thép vẫn kém và có thể còn nhiều đợt giảm giá nữa.
Trong khi sản lượng thép trong nước giảm mạnh, thì thép nhập khẩu vẫn đang vào Việt Nam với số lượng lớn. Cụ thể, trong 5 tháng đầu năm 2023, nhập khẩu thép thành phẩm các loại về Việt Nam trên 4,6 triệu tấn, riêng thép từ Trung Quốc chiếm tới 54,17% tổng sản lượng thép nhập khẩu.
Về vấn đề môi trường
Ủy ban Châu Âu đã công bố quy định chính thức về việc thực hiện giai đoạn chuyển tiếp của Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon mới (CBAM). Giai đoạn chuyển tiếp CBAM bắt đầu từ đầu tháng 10 năm 2023 và sẽ kéo dài đến cuối năm 2025. Từ năm 2026, CBAM sẽ được triển khai đầy đủ. Mà ngành thép vẫn đang phải chịu trách nhiệm cho 7% tổng lượng phát thải quốc gia và 46% các quá trình công nghiệp. Đây thực sự là thách thức rất lớn của ngành thép Việt Nam trong thời gian tới khi gặp rào cản khắt khe hơn trong việc xuất khẩu sang thị trường châu Âu.
Giá nguyên vật liệu và giá cước tàu biển bình ổn trở lại
Điểm sáng cho NKG là chi phí bán hàng giảm nhờ chi phí vận chuyển thế giới giảm. Với tỷ trọng xuất khẩu chiếm hơn 50% trong cơ cấu doanh thu, lượng thép xuất khẩu đến các nước được vận chuyển chủ yếu thông qua đường biển. Chỉ số giá cước vận tải biển Baltic Dry Index có xu hướng giảm về cuối năm 2023, giúp các doanh nghiệp xuất khẩu giảm chi phí đáng kể. Giá thép HRC phục hồi, qua đó Thép Nam Kim sẽ giảm được giá thành và cải thiện biên lợi nhuận trong năm 2023.