TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP – CTCP
I. GIỚI THIỆU CHUNG
1. Thông tin chung
● Tên đầy đủ: Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển Công nghiệp – CTCP
● Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số: 3700145020
● Vốn điều lệ: 10,350,000,000,000 đồng
● Vốn chủ sở hữu: 10,350,000,000,000 đồng
● Điện thoại: (84.274) 382 2655
● Email: Becamex@.hcm.vnn.vn
● Website: http://www.becamex.com.vn
● Mã cổ phiếu: BCM
2. Quá trình hình thành và phát triển
– Năm 1976: Công ty Thương Nghiệp Tổng Hợp Bến Cát (Becamex) được thành lập.
– Năm 1992: Sáp nhập với các công ty cấp Tỉnh lấy tên chính thức là công ty Thương mại – XNK Tỉnh Sông Bé (Becamex).
– Năm 1999: Đổi tên thành Công ty Thương Mại – Đầu Tư và Phát Triển (tên giao dịch là BECAMEX Corp.
– Ngày 21/02/2018: Là ngày giao dịch đầu tiên trên sàn UPCoM với giá tham chiếu là 31,000 đ/CP.
– Ngày 27/09/2018: Chuyển đổi thành Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển Công nghiệp – CTCP với vốn điều lệ 10,125,811,000,000 đồng.
– Tháng 7/2019: Tăng vốn điều lệ lên 10,350,000 đồng.
– Ngày 30/08/2020: Ngày hủy giao dịch trên UPCoM.
– Ngày 31/08/2020: Ngày giao dịch trên sàn HOSE với giá 28,000 đ/CP.
3. Lĩnh vực kinh doanh
Lĩnh vực kinh doanh của BCM bao gồm: Phát triển khu công nghiệp (lĩnh vực kinh doanh cốt lõi), Phát triển BDS dân cư – Thương mại, Cung cấp dịch vụ y tế – giáo dục, Hạ tầng dịch vụ, Hạ tầng kỹ thuật, Hạ tầng xã hội, Hoạt động xây dựng, Lắp đặt và kinh doanh điện.
Về địa bàn hoạt động, những năm trước đây Becamex IDC chủ yếu tập trung khai thác lĩnh vực phát triển khu công nghiệp và khu dịch vụ đô thị trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên để đáp ứng cho xu thế phát triển bền vững Tổng công ty và VSIP đã và đang cho triển khai các dự án ở các tỉnh thành khác như:
– Đang kinh doanh : VSIP Bắc Ninh, VSIP Hải Phòng, VSIP Hải Dương, VSIP Nghệ An, VSIP Quảng Ngãi, VSIP Bình Định, VSIP Bình Dương.
– Đồng thời, chấp thuận chủ trương đầu tư cho 04 KCN: Lạng Sơn, Thái Bình, Bình Thuận và Hà Tĩnh.

4. Các công ty con và công ty liên kết
BCM có 7 công ty con và 23 công ty liên kết và đầu tư tài chính.

5. Cơ cấu cổ đông

Về cơ cấu cổ đông, BCM có 98% là cổ đông trong nước và 2% là cổ đông nước ngoài.

Cổ đông lớn của BCM là UBND Tỉnh Bình Dương, nắm giữ 95.44% cổ phần.

Lịch sử thay đổi vốn điều lệ:

BCM thực hiện 1 lần tăng vốn điều lệ vào tháng 07/2019 lên 10,350 tỷ VND.
Lịch sử chi trả cổ tức:
– Ngày 10/12/2021: Trả cổ tức đợt 2/2020 bằng tiền, 400 đồng/CP.
– Ngày 10/07/2022: Trả cổ tức năm 2021 bằng tiền, 700 đồng/CP.
– Ngày 28/11/2023: Trả cổ tức năm 2022 bằng tiền, 800 đồng/CP.

6. Ban lãnh đạo
Ông Nguyễn Văn Hùng là chủ tịch Hội đồng quản trị, nắm giữ 0.6% cổ phần của BCM.

II. TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY 2023
1. Bảng cân đối kế toán

1.1. Tổng tài sản
Theo thông tin trong Báo cáo tài chính đến hết 31/12/2023, Tổng tài sản của BCM đạt 53,424 tỷ đồng, tăng 5,134 tỷ (tương đương 10.63%) so với năm 2022. Trong cơ cấu tổng tài sản thì tài sản ngắn hạn là 28,441 tỷ đồng (chiếm 53.24% tổng tài sản) và tài sản dài hạn là 24,983 tỷ đồng (tương đương 46.76% tổng tài sản).

1.1.1. Tài sản ngắn hạn
– Tiền và các khoản tương đương tiền năm 2023 là 1,332 tỷ đồng, chiếm 2.49% tổng tài sản, tăng 261 tỷ đồng, tương đương 24.43% so với năm 2022. Khoản này chủ yếu là tiền gửi ngân hàng (1,132 tỷ) và các khoản tương đương tiền (186 tỷ).

– Các khoản phải thu ngắn hạn năm 2023 là 7,023 tỷ đồng, chiếm 13.15% tổng tài sản, tăng 1,709 tỷ đồng, tương đương 32.15% so với năm 2022.
+ Phải thu ngắn hạn của khách hàng năm 2023 là 5,667 tỷ đồng, chiếm 10.61% tổng tài sản, tăng 2,677 tỷ đồng, tương đương 89.55% so với năm 2022. Trong đó:
Phải thu các bên liên quan là 755 tỷ, tập trung là phải thu công ty Cổ phần Phát triển Hạ tầng Kỹ thuật (353 tỷ), Công ty TNHH MTV Khách sạn Becamex (13 tỷ) và Công ty TNHH MTV Thương mại Becamex (45 tỷ).
Phải thu các khách hàng khác là 4,912 tỷ từ các khách hàng khác, chủ yếu là 2,775 tỷ từ Công ty TNHH Sycamore.

+ Trả trước cho người bán ngắn hạn năm 2023 là 264 tỷ đồng, chiếm 0.5% tổng tài sản, tăng 1 tỷ đồng, tương đương 0.51% so với năm 2022. Các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng của Tập đoàn được cầm cố để đảm bảo cho các khoản vay tại ngân hàng Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Bình Dương.

+ Phải thu ngắn hạn khác năm 2023 là 1,146 tỷ đồng, chiếm 2.14% tổng tài sản, giảm 958 tỷ đồng, tương đương 45.55% so với năm 2022. Trong đó, chủ yếu là khoản phải thu góp vốn đầu tư dự án và chi phí hoạt động từ công ty Cổ phần Becamex Bình Định (211 tỷ), Khoản phạt trả chậm thanh toán từ công ty Cổ phần Hạ tầng Kỹ thuật (148 tỷ), Cổ tức, lợi nhuận được chia từ Công ty Cổ phần Phát triển Hạ tầng Kỹ thuật (175 tỷ).

– Hàng tồn kho năm 2023 là 19,833 tỷ đồng, chiếm 37.12% tổng tài sản, giảm 1,027 tỷ đồng, tương đương 4.93% so với năm 2022. Trong đó, tập trung ở khoản Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang (17,587 tỷ) và hàng hóa (2,138 tỷ). Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang của Tập đoàn là chi phí xây dựng dở dạng của các dự án bao gồm chi phí đền bù giải phóng mặt bằng và các chi phí phải trả để có được quyền sử dụng đất, chi phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và các chi phí khác có liên quan đến dự án.

– Tài sản ngắn hạn khác năm 2023 là 163 tỷ đồng, chiếm 0.31% tổng tài sản, giảm 3 tỷ đồng, tương đương 2.31% so với năm 2022.
1.1.2. Tài sản dài hạn
– Các khoản phải thu dài hạn năm 2023 là 532 tỷ đồng, chiếm 1% tổng tài sản, giảm 36 tỷ đồng, tương đương 6.47% so với năm 2022. Trong đó, phải thu dài hạn của khách hàng là 146 tỷ, được cầm cố để đảm bảo cho các khoản vay; phải thu dài hạn khác là 386 tỷ, tập trung ở khoản hợp tác kinh doanh với Công ty TNHH VSIP Hải Phòng để đầu tư dự án Khu Phố Bắc Sông Cấm tại huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Dự án này dự kiến hoàn thành vào tháng 12 năm 2024.

– Tài sản cố định năm 2023 là 1,159 tỷ đồng, chiếm 2.17% tổng tài sản, giảm 84 tỷ đồng, tương đương 6.81% so với năm 2022.
– Bất động sản đầu tư năm 2023 là 2,535 tỷ đồng, chiếm 4.75% tổng tài sản, tăng 2,110 tỷ đồng, tương đương 496.99% so với năm 2022. Khoản này tăng nhiều trong năm chủ yếu do chuyển 2,164 tỷ từ hàng tồn kho. Bất động sản đầu tập trung ở Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Becamex (2,031 tỷ), Tòa nhà Becamex Tower (207 tỷ) và Khách sạn Becamex (142 tỷ).

– Tài sản dở dang dài hạn năm 2023 là 3,190 tỷ đồng, chiếm 5,97% tổng tài sản, tăng 1,298 tỷ đồng, tương đương 68.6% so với năm 2022. Khoản này là Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang tập trung cho Dự án Hòa Lợi (1,403 tỷ), hiện tại dự án đang tạm dừng thực hiện nhằm giảm áp lực về nhu cầu vốn. Do TDC – công ty con của BCM, do hoạt động kinh doanh năm 2023 thua lỗ hơn 365 tỷ đồng và gặp khó khăn về tài chính, chậm thanh toán lãi trái phiếu đến hạn. Hiện tại, công ty có kế hoạch đưa vào vận hành dự án này.
Dự án TDC Plaza là 523 tỷ. Năm 2024, dự kiến sẽ mở bán dự án này. Trong đó, Công ty dự kiến doanh thu chuyển nhượng toàn bộ Dự án TDC Plaza khoảng 630 tỷ đồng
Dự án Unitown – Giải đoạn 2 là 381 tỷ. Công ty dự kiến mở bán 65 căn trong năm 2024, tổng doanh thu khoảng 344 tỷ đồng.

Chi phí xây dựng cơ bản dở dang là 881 tỷ, trong đó chủ yếu là khoản Xây dựng cơ bản dở dang (863 tỷ).

– Đầu tư tài chính dài hạn năm 2023 là 17,225 tỷ đồng, chiếm 32.24% tổng tài sản, tăng 1,342 tỷ đồng, tương đương 8.45% so với năm 2022.
+ Đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh năm 2023 là 16,633 tỷ đồng, chiếm 31.14% tổng tài sản, tăng 1,432 tỷ đồng, tương đương 8.78% so với năm 2022. Khoản này tập trung chủ yếu là khoản đầu tư vào Công ty Cổ phần Phát triển Công nghiệp BW (3,594 tỷ, 24.06% vốn điều lệ), Công ty TNHH Becamex Tokyu (3,027 tỷ, 35% vốn điều lệ), và Công ty Liên doanh TNHH Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore (6,317 tỷ, 49% vốn điều lệ). Công ty đã kê khai khoản lãi từ cổ tức vào báo cáo tài chính và phản ánh vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Hiện tại, công ty chưa có thương vụ thoái vốn công ty con.

+ Đầu tư góp vốn vào đơn vị khác năm 2023 là 592 tỷ đồng, chiếm 1.11% tổng tài sản, không tăng so với năm 2022. Khoản này chủ yếu đầu tư vào CTCP nước Môi trường Bình Dương (375 tỷ), CTCP Phát triển Đô thị và Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore (217 tỷ).

– Tài sản dài hạn khác năm 2023 là 338 tỷ đồng, chiếm 0.63% tổng tài sản, giảm 85 tỷ đồng, tương đương 20.08% so với năm 2022.
1.2. Nguồn vốn
Tính đến hết 31/12/2023, Tổng nguồn vốn của BCM đạt 53,423 tỷ đồng. Trong cơ cấu tổng nguồn vốn thì nợ phải trả là 33,951 tỷ đồng (chiếm 63.55% tổng nguồn vốn) và vốn chủ sở hữu là 19.472 tỷ đồng (tương đương 36.45% tổng nguồn vốn).
1.2.1. Nợ phải trả
Nợ phải trả của BCM năm 2023 là 33,951 tỷ. Trong đó, nợ ngắn hạn là 22,997 tỷ, chiếm 67.74% nợ phải trả; nợ dài hạn là 10,953 tỷ, chiếm 32.26% nợ phải trả.

– Người mua trả tiền trước ngắn hạn năm 2023 là 1,322 tỷ đồng, chiếm 2.48% tổng nguồn vốn, giảm 2,579 tỷ đồng, tương đương 66.11% so với năm 2022. Khoản này tập trung ở khoản người mua trả tiền trước từ Công ty Cổ phần Setia Becamex (396 tỷ), các khách hàng khác (926 tỷ).

– Chi phí phải trả ngắn hạn năm 2023 là 9,702 tỷ đồng, chiếm 18.16% tổng nguồn vốn, tăng 2,188 tỷ đồng, tương đương 29,12% so với năm 2022.

– Vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn năm 2023 là 9,385 tỷ đồng, chiếm 17.57% tổng nguồn vốn, tăng 4,434 tỷ đồng, tương đương 89.57% so với năm 2022. Trong đó, có 6,079 tỷ tiền Vay ngắn hạn ngân hàng, tập trung ở khoản vay Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Bình Dương (3,785 tỷ).

– Doanh thu chưa thực hiện dài hạn năm 2023 là 475 tỷ đồng, chiếm 0.89% tổng nguồn vốn, giảm 118 tỷ đồng, tương đương 19.96% so với năm 2022.

– Vay và nợ thuê tài chính dài hạn năm 2023 là 10,331 tỷ đồng, chiếm 19.34% tổng nguồn vốn, giảm 604 tỷ đồng, tương đương 5.53% so với năm 2022. Trong đó, chủ yếu là 9,059 tỷ tiền từ Trái phiếu thường dài hạn. Các trái chủ lớn hiện nay chủ yếu là các công ty chứng khoán như CTCP Chứng khoán Smart Invest (4.000 tỷ); CTCP Chứng khoán Navibank (4.000 tỷ); CTCP Chứng khoán Euro Capital (800 tỷ)…

– Quỹ phát triển khoa học và công nghệ năm 2023 là 138 tỷ đồng, chiếm 0.26% tổng nguồn vốn, không thay đổi so với năm 2022.
1.2.2. Vốn chủ sở hữu
– Vốn góp của chủ sở hữu năm 2023 là 10,350 tỷ đồng, chiếm 19.37% tổng nguồn vốn, không thay đổi so với năm 2022.
– Quỹ đầu tư phát triển năm 2023 là 2,074 tỷ đồng, chiếm 3.88% tổng nguồn vốn, tăng 488 tỷ đồng, tương đương 30.79% so với năm 2022.
– Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối năm 2023 là 6,303 tỷ đồng, chiếm 11.8% tổng nguồn vốn, tăng 1,141 tỷ đồng, tương đương 22.12% so với năm 2022.
Nhận xét: Như vậy, tài sản của BCM chủ yếu là hàng tồn kho, chiếm hơn 37% tổng tài sản. Đồng thời, khoản đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh dài hạn cũng chiếm tỷ trọng nhiều. Tổng công ty có khoản vốn chủ sở hữu chiếm phần lớn (36.45%), tuy nhiên, nợ ngắn hạn tăng cao (chiếm 43.05%) trong khi lượng tiền mặt thấp.
2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

– Doanh thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2023 là 8,174 tỷ, tăng 1,647 tỷ, tương đương 25.23% so với năm 2022. Trong đó:
+ Doanh thu thi công, xây dựng công trình là 54 tỷ.
+ Doanh thu kinh doanh bất động sản, bất động sản đầu tư là 6,582 tỷ.
+ Doanh thu cung cấp dịch vụ, hàng hóa là 1,064 tỷ.
+ Doanh thu bán thành phẩm là 371 tỷ.
+ Doanh thu hoạt động khác là 101 tỷ.
Trong thuyết minh BCTC, Becamex IDC cũng không thuyết minh cụ thể nguồn thu nhập “lớn chứa từng có” trong thời gian vừa qua bắt nguồn từ việc việc kinh doanh và bán bất động sản. Tuy nhiên, tới tháng 12/2023 UBND tỉnh Bình Dương chấp thuận cho phép chủ đầu tư là Becamex IDC thực hiện chuyển nhượng dự án khu đô thị nhà ở phức hợp Tân Thành Bình Dương. Bên nhận chuyển nhượng hoàn toàn dự án là Công ty TNHH Sycamore, thuộc CapitaLand.
Kế hoạch chuyển nhượng đã được thông báo từ năm 2021 bởi BCM và Tổng công ty đã nhận tiền đặt cọc 2.310 tỷ đồng của đối tác từ quý 1/2022. Đến hết năm 2023, doanh nghiệp không còn ghi nhận khoản mục này. Thay vào đó, bảng cân đối kế toán của Becamex IDC phát sinh khoản phải thu ngắn hạn 2.776 tỷ đồng từ công ty TNHH Sycamore.

– Các khoản giảm trừ doanh thu năm 2023 là 292 tỷ, chủ yếu là khoản hàng bán bị trả lại.

– Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2023 là 7,882 tỷ, tăng 1,376 tỷ, tương đương 21.08% so với năm 2022.
– Giá vốn hàng bán năm 2023 là 3,634 tỷ, giảm 135 tỷ, tương đương 2.08% so với năm 2022. Khoản này giảm do việc hàng bán bị trả lại.

– Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ là 4,247 tỷ, tăng 1,511 tỷ, tương đương 23.16% so với năm 2022. Trong đó, biên lợi nhuận gộp của từng mảng là:
+ Biên lợi nhuận gộp mảng thi công, xây dựng công trình là 24.07%.
+ Biên lợi nhuận gộp mảng kinh doanh bất động sản, bất động sản đầu tư là 56.9%.
+ Biên lợi nhuận gộp mảng cung cấp dịch vụ, hàng hóa là 44.08%.
+ Biên lợi nhuận gộp mảng bán thành phẩm là 17.79%.
+ Biên lợi nhuận gộp mảng hoạt động khác là 39.6%.
– Doanh thu hoạt động tài chính là 131 tỷ, tăng 57 tỷ, tương đương 0.88% so với năm 2022. Năm nay, công ty nhận về khoản cổ tức lợi nhuận được chia tăng từ 4 tỷ lên 50 tỷ; khoản lãi thanh lý các khoản đầu tư ngắn hạn, dài hạn khác là 42 tỷ.

– Chi phí tài chính là 906 tỷ, tăng 26 tỷ, tương đương 0.41% so với năm 2022. Khoản này chủ yếu là chi phí lãi vay.

– Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh là 2,805 tỷ, tăng 1,032 tỷ, tương đương 15.81% so với năm 2022.
– Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp là 2,280 tỷ, giảm 565 tỷ, tương đương 8.67% so với năm 2022.
Trong năm 2023, kết quả kinh doanh của các đơn vị thành viên tiếp tục có sự phân hóa. Các đơn vị hoạt động lĩnh vực nhà hàng- khách sạn, y tế, giáo dục, thu phí đường bộ cho thấy sự ổn định. Mặt khác, các đơn vị thành viên trong lĩnh vực xây dựng và kinh doanh BĐS nhà ở còn nhiều khó khăn do thanh khoản thị trường BĐS còn ở mức thấp. Đối với các đơn vị trong lĩnh vực đầu tư hạ tầng khu công nghiệp và nhà xưởng cho thuê cho thấy sự phục hồi theo xu hướng chung của nền kinh tế.
3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh là âm 3,150 tỷ và giảm 3,654 tỷ so với năm 2022. Nguyên nhân chính là tồn kho, phải thu và tiền lãi vay đã trả lớn.
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư đạt 472 tỷ đồng và tăng 1,352 tỷ so với năm 2022.
Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính đạt 2,939 tỷ và tăng 4,477 tỷ so với năm 2022.

III. TRIỂN VỌNG CỦA DOANH NGHIỆP
Mảng Khu công nghiệp
Trong hai tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ước đạt 97,2 tỷ USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,6% so với quý 1/2024. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký từ đầu năm đến tháng 6 đã tăng 13,1% so với cùng kỳ lên 15,2 tỷ USD, sau mức tăng 13,4% trong Quý 1 năm 2024 và dòng vốn FDI giải ngân từ đầu năm đến tháng 6/2024 đạt 10,8 tỷ USD, hơn gấp đôi so với mức 4,6 tỷ USD trong Quý 1 năm 2024. Do đó, sản suất được kỳ vọng phục hồi giúp dòng vốn đầu tư sản xuất tại khu vực phía Nam tăng trở lại.

Hiện tại, Tổng Công ty đã đầu tư và xây dựng 6 khu công nghiệp bao gồm: KCN Mỹ Phước 1, KCN Mỹ Phước 2, KCN Mỹ Phước 3, KCN Thới Hòa và KCN Bàu Bàng (hiện hữu và mở rộng). Đến nay, những KCN này có tiến độ đầu tư hạ tầng đạt trên 95% với tỉ lệ lấp đầy trên 80%.

Trong năm 2023 – 2025, Tổng công ty dự định chú trọng việc thu hút các Tập đoàn lớn và áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến vào KCN Bàu Bàng mở rộng (diện tích kinh doanh còn lại gần 400ha). BCM có nhu cầu thuê đất KCN hàng năm từ 100ha, quỹ đất còn lại tại KCN Bàu Bàng mở rộng được dự tính đủ để Tổng công ty kinh doanh đến hết năm 2024.

Vì những KCN hiện hữu có tỷ lệ lấp đầy cao nên BCM đã thực hiện đầu tư dự án KCN Cây Trường tại Tỉnh Bình Dương với diện tích quy hoạch 700ha, vốn đầu tư gần 4.000 tỷ đồng. Dự án đã được chấp thuận chủ đầu tư của Thủ tướng chính phủ, và đã được tỉnh phê duyệt quy hoạch 1/2000. Tổng công ty mới công bố về quyết định phát hành 300 triệu cổ phiếu để thu về 15 nghìn tỷ đồng. Trong đó, dự định sử dụng 3.5 ngàn tỷ đồng phát triển KCN Bàu Bàng mở rộng (tổng diện tích 1,000ha), 2.8 ngàn tỷ đồng phát triển KCN Cây Trường (700ha).
Phát triển nhà ở xã hội
Trong khoảng thời gian 2023 – 2028, BCM tiếp tục hoạt động phát triển hạ tầng giao thông, đô thị, KCN thế hệ mới, NOXH.

Trong 2024, BCM khởi công 4,200 căn NOXH vào đầu quý 3 bao gồm khu 6 Việt Sing (TP. Thuận An) và khu 5 Định Hòa (TP. Thủ Dầu Một). Hoàn chỉnh hồ sơ và khởi công tiếp 6,800 căn NOXH vào cuối quý 4/2024 gồm các khu 2, 7, 8, 9 Việt Sing và khu 3, 4 Định Hòa (TP. Thủ Dầu Một).

Nhà nước có quyết định giảm tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ tại BCM từ 95.44% xuống mức trên 65% vốn điều lệ đến hết năm 2025.

RỦI RO
Tỷ lệ vay nợ cao, áp lực trả nợ trái phiếu năm 2024-25
Với đặc thù triển khai nhiều dự án cùng lúc nên trong thời gian vừa qua BCM đã huy động nguồn vốn lớn. Tính đến cuối năm 2023, BCM có 9,384 tỷ vay ngắn hạn và 10,353 tỷ vay dài hạn; tổng dư nợ tăng 24% so với đầu năm, trong đó giá trị trái phiếu phát hành đến thời điểm cuối năm đạt 11,906 tỷ đồng, tăng 1,585 tỷ đồng so với đầu năm Tỷ lệ nợ vay/VCSH của BCM đạt 103%.

Bối cảnh khó khăn chung của ngành BĐS
Trong năm 2023, BCM gặp phải khó khăn khi một số dự án phải ngừng triển khai để giảm bớt áp lực nhu cầu về vốn:
– Dự án Lake View của UDJ (51% cổ phần thuộc về BCM) phải tạm dừng, thực hiện thanh lý hợp đồng với đối tác.
– Dự án TDC Hoà Lợi, Sông Cấm và Unitown GĐ 2 phải tạm dừng triển khai do hoạt động của TDC thua lỗ hơn 365 tỷ trong năm 2023 và gặp khó khăn về tài chính.
Một số những công ty con, công ty liên kết gặp phải vấn đề khó khăn, kết quả kinh doanh kém khả quan:
– IJC – BCM chiếm 49.76% – có doanh thu và lợi nhuận lần lượt giảm 24% và 23% svck
– Setia Becamex (BCM sở hữu 40%) ghi nhận lợi nhuận năm 2023 đạt 33 tỷ đồng giảm 65% svck
– Becamex Tokyu (BCM nắm giữ 35%) lỗ khoảng 24 tỷ đồng.