PHÂN TÍCH MÃ CỔ PHIẾU VHC
CTCP Vĩnh Hoàn
1. GIỚI THIỆU CHUNG:

1.1. Thông tin chung
– Tên đầy đủ: CTCP Vĩnh Hoàn
– Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 1400112623
– Vốn điều lệ: 1,870,444,950,000 đồng
– Điện thoại: (84.277) 389 1166
– Email: info@vinhhoan.com
– Trụ sở chính: Quốc lộ 30 – P. 11 – Tp. Cao Lãnh – T. Đồng Tháp
– Website: http://vinhhoan.com/
– Mã cổ phiếu: VHC (HOSE)

1.2. Quá trình hình thành và phát triển

Công ty cổ phần Vĩnh Hoàn tiền thân là Doanh nghiệp tư nhân Vĩnh Hoàn tại Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, Việt Nam do bà Trương Thị Lệ Khanh sáng lập năm 1977. Năm 1988, Công ty chuyển đổi mô hình doanh nghiệp sang Công ty TNHH Vĩnh Hoàn. Đến 24/12/2007, CTCP Vĩnh Hoàn chính thức niêm yết cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) với mã cổ phiếu VHC.
Năm 2016, VHC Nâng giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài lên 100% giúp Công ty tăng khả năng thu hút nhà đầu tư chiến lược trong tương lai.
1.3. Lĩnh vực kinh doanh
1.3.1. Ngành nghề kinh doanh:
– Nuôi trồng, đánh bắt, chế biến, bảo quản thủy hải sản.
– Mua bán thủy hải sản, máy móc thiết bị, hóa chất, nông sản thực phẩm, súc sản, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất.
– Kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, xây dựng nhà các loại, kinh doanh BĐS.
– Sản xuất bao bì giấy, in các loại…

1.3.2. Sản phẩm kinh doanh:
Hiện nay, Vĩnh Hoàn đã vươn lên dẫn đầu ngành cá tra về nuôi trồng, sản xuất và xuất khẩu. Một số sản phẩm nổi bật của VHC là: sản phẩm cá fillet, bánh phồng, sản phẩm từ gạo, Collagen và Gelatin, sản phẩm giá trị gia tăng, sản phẩm phụ… Trong đó, sản phẩm cá fillet vẫn là mặt hàng nổi bật của VHC với cơ cấu lên đến 56%.

1.4. Cơ cấu cổ đông
Tính đến 31/12/2023, cơ cấu cổ đông của VHC gồm: 60.52% là cổ đông lớn, trong đó, Chủ tịch HĐQT Trương Thị Lệ Khanh nắm giữ 94,980,340 cổ phiếu, tương đương 42.32% cổ phần công ty; cổ đông tổ chức chiếm 10.81%, trong đó, Tập đoàn Mitsubishi nắm giữ 14,400,000 cổ phiếu, tương đương 6.42% cổ phần công ty. 39.1% là cổ đông khác.

1.5. Ban lãnh đạo
Chủ tịch HĐQT của VHC là bà Trương Thị Lệ Khanh, nắm giữ 42.32% cổ phần công ty, Tổng giám đốc là bà Nguyễn Ngô Vi Tâm, nắm giữ 0.32% cổ phần VHC.

1.6. Công ty con, công ty liên kết
Tính đến 31/12/2023, CTCP Vĩnh Hoàn có tổng cộng 8 công ty con, trong đó: Công ty TNHH Nông sản Thực phẩm Thành Ngọc và công ty TNHH MTV Thực phẩm Vĩnh Phước có vốn điều lệ cao nhất, lần lượt là 500 tỷ và 450 tỷ đồng.

1.7. Thay đổi vốn điều lệ

Trong quá trình hình thành và phát triển, VHC đã nhiều lần tăng vốn điều lệ. Trong năm 2023, Công ty có nâng vốn điều lệ từ 1,833 tỷ đồng lên 1,870 tỷ đồng. Vốn điều lệ tăng thêm 37 tỷ đồng do Công ty đã hoàn tất việc phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty (ESOP) năm 2022 với số cổ phiếu đăng ký phát hành và hoàn thành phân phối là 3,667,539 cổ phiếu vào ngày 09/11/2023.
1.8. Cổ tức
VHC trả cổ tức đều đặn kể từ khi niêm yết. Trong thời gian gần đây, VHC thực hiện trả cổ tức năm 2023 bằng tiền với giá trị 2,000 đồng/cổ phiếu, trả cổ tức năm 2022 đợt 1 bằng tiền 2,000 đồng/cổ phiếu và đợt 2 bằng cổ phiếu với tỷ lệ 100:20.

2. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY
2.1. Về tài sản Bảng cân đối kế toán
2.1.1. Về tài sản
(Đơn vị: Triệu đồng)

Tổng tài sản của công ty thời điểm 31/12/2023 là 11,942 tỷ đồng, tăng 359 tỷ đồng so với năm 2022 (tương ứng 3.10%). Trong đó Tài sản ngắn hạn là 7,888 tỷ đồng, chiếm 66.05% và tài sản dài hạn 4,054 tỷ đồng chiếm 33.95% tổng tài sản.

a. Đánh giá tài sản ngắn hạn:
Thời điểm 31/12/2023, tài sản ngắn hạn của Công ty là 7,888 tỷ đồng, tăng 247 tỷ đồng (tương ứng 3.24%) so với năm 2022. Cơ cấu tài sản gồm:
– Tiền và các khoản tương đương tiền: tại thời điểm 31/12/2023 là 232 tỷ đồng, giảm 320 tỷ đồng (tương đương 57.91%) so với năm 2022, chủ yếu là tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn trị giá 231 tỷ đồng.

– Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: tại thời điểm 31/12/2023 là 2,068 tỷ đồng, chiếm 17.32% tổng tài sản, tăng 300 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 17%). Trong đó, VHC có khoản đầu tư chứng khoán kinh doanh trị giá 181 tỷ đồng là các cổ phiếu NLG, DXS, KBC. Khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn là tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn trên 3 tháng và dưới 1 năm trị giá 1,926 tỷ đồng.

– Các khoản phải thu ngắn hạn tại thời điểm 31/12/2023 của Công ty là 1,577 tỷ đồng chiếm 13.21% tổng tài sản, giảm 752 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 32.28%), bao gồm: các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng 1,438 tỷ, trả trước người bán 103 tỷ, các khoản phải thu ngắn hạn khác 42 tỷ và các khoản dự phòng (-6) tỷ.
+ Phải thu ngắn hạn của khách hàng: tại 31/12/2023 là 1,438 tỷ, giảm 683 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 32.21%). Không có khách hàng bên thứ ba nào có số dư chiếm hơn 10% trên tổng số dư các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng. Các khoản phải thu ngắn hạn này được dùng làm thế chấp cho các khoản vay tại ngân hàng.

+ Trả trước cho người bán ngắn hạn: tại thời điểm 31/12/2023 của Công ty là 103 tỷ đồng, tăng 27 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 36.8%), cụ thể, khoản trả trước cho người bán ngắn hạn bên thứ ba trị giá 83 tỷ đồng và trả trước cho bên liên quan khoảng 20 tỷ đồng.

+ Phải thu ngắn hạn khác tại thời điểm 31/12/2023 của Công ty là 42 tỷ đồng, giảm 96 tỷ đồng (tương ứng 69.67%) trong năm 2022, chủ yếu là khoản tạm ứng nhân viên trị giá 21.5 tỷ đồng được đảm bảo bằng các quyền sử dụng đất tại Xã Bình Phú, Huyện Tân Hồng, Tỉnh Đồng Tháp. Ngoài ra, Tập đoàn không có khoản phải thu ngắn hạn khác nào quá hạn hoặc chưa quá hạn nhưng khó có khả năng thu hồi.

+ Khoản dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi tại thời điểm 31/12/2023 của Công ty là 6 tỷ đồng, thay đổi không đáng kể so với năm 2022.

– Hàng tồn kho của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 3,763 tỷ đồng, chiếm 31.51% tổng tài sản của Công ty, tăng 945 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 33.57%), chủ yếu là thành phẩm trị giá 1,847 tỷ đồng, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang là 1,492 tỷ đồng, nguyên vật liệu 327 tỷ đồng và hàng đang đi đường 281 tỷ đồng. Sức mua giảm dẫn đến bán hàng chậm cũng là nguyên nhân làm hàng tồn kho năm 2023 tăng khoảng 30% so với năm 2022.

Ngoài ra, công ty có 245 tỷ đồng tài sản ngắn hạn khác (chiếm 2.06% tổng tài sản), tăng 73 tỷ đồng (tương ứng 42.9%) so với 2022, bao gồm chi phí trả trước ngắn hạn 13 tỷ đồng, thuế và GTGT được khấu trừ 231 tỷ đồng.

b. Đánh giá tài sản dài hạn:

Tài sản dài hạn của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 4,054 tỷ đồng, chiếm 33.95% tổng tài sản Công ty, giảm 111 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 2.83%). Trong đó: Tài sản cố định hữu hình là 2,920 tỷ đồng (chiếm 24.46% tổng tài sản), tài sản cố định vô hình là 462 tỷ, lợi thế thương mại 225 tỷ, tài sản dở dang dài hạn là khoảng 160 tỷ, đầu tư tài chính dài hạn 67 tỷ và tài sản dài hạn khác là 21 tỷ. Các khoản phải thu dài hạn không đáng kể.
– Tài sản cố định hữu hình của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 2,920 tỷ đồng, giảm 559 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 19.83%), chủ yếu bao gồm: (1) Nhà và vật kiến trúc; (2) Máy móc, thiết bị; (3) Phương tiện vận tải; (4) Thiết bị quản lý và (5) Tài sản cố định hữu hình khác. Trong đó, đa số là máy móc, thiết bị trị giá 1,580 tỷ đồng và nhà xưởng, vật kiến trúc trị giá 1,268 tỷ đồng.

– Tài sản cố định vô hình của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 khoảng 462 tỷ đồng, giảm 161 tỷ đồng (53.48%) so với 2022, gồm: (1) Quyền sử dụng đất 456 tỷ đồng; (2) Phần mềm vi tính 5.7 tỷ đồng.

– Chi phí xây dựng cơ bản dở dang của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 khoảng 160 tỷ đồng, giảm 405 tỷ đồng (tương ứng 71.73%) so với năm 2022. Trong đó, chi phí mua sắm TSCĐ là 71 tỷ đồng, chi phí xây dựng nhà máy và văn phòng 55 tỷ đồng và chi phí cho các ao nuôi cá khoảng 30 tỷ đồng. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang giảm là do có sự chuyển đổi từ khoản mục này sang TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình và hàng tồn kho, trị giá lần lượt là 716 tỷ đồng, 25 tỷ đồng và 115 tỷ đồng.

– Chi phí trả trước dài hạn là 213 tỷ đồng, giảm 8 tỷ đồng (tương ứng 3.73%) so với năm 2022, chủ yếu là chi phí vùng nuôi 109 tỷ đồng.

– Lợi thế thương mại của VHC tính đến 31/12/2023 là 225 tỷ đồng, giảm 35 tỷ, tương đương 13.48% so với 2022.

2.1.2. Phân tích nguồn vốn:

Tại thời điểm 31/12/2023, tổng nguồn vốn của VHC là 11,942 tỷ đồng, trong đó: Nợ phải trả là 3,351 tỷ đồng chiếm 28.06% tổng nguồn vốn của VHC; Vốn chủ sở hữu là 8,591 tỷ đồng chiếm 71.94%.

(1) Nợ phải trả:
Tính đến 31/12/2023, nợ phải trả của VHC là 3,351 tỷ đồng, trong đó, nợ phải trả ngắn hạn là 3,232 tỷ đồng, nợ phải trả dài hạn là 118 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm 2022, nợ phải trả của VHC đã giảm 537 tỷ đồng, tương đương 7.43%.
a) Nợ ngắn hạn: Tại thời điểm 31/12/2023, Nợ ngắn hạn của VHC là 3,232 tỷ đồng, giảm 465 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 12.58%). Trong cơ cấu nợ ngắn hạn, khoản vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn trị giá 2,157 tỷ đồng (chiếm 67% tổng nợ ngắn hạn), phải trả người bán ngắn hạn 308 tỷ đồng (10%), phải trả người lao động 210 tỷ đồng, chi phí phải trả ngắn hạn 176 tỷ đồng, thuế và các khoản phải nộp nhà nước 133 tỷ, quỹ phúc lợi 130 tỷ và phải trả ngắn hạn khác 98 tỷ. Người bán trả tiền trước ngắn hạn không đáng kể.

– Vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn của Công ty là 2,157 tỷ đồng, chiếm 18.06% tổng nguồn vốn, giảm 56 tỷ đồng (tương ứng 2.54%) so với đầu kỳ. Đây là các khoản vay ngân hàng trị giá 2,201 tỷ đồng và khoản vay dài hạn đến hạn phải trả trị giá 11.6 tỷ đồng. Trong đó ba khoản vay lớn nhất là: (1) khoản vay ngắn hạn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh trị giá 1,477 tỷ đồng, được thế chấp bằng quyền sử dụng đất và TSCĐ thuộc Phân xưởng 1, Phân xưởng 2 và Phân xưởng 3 của Tập đoàn; (2) vay Ngân hàng TNHH MTV ANZ (Việt Nam) – Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh trị giá gần 273 tỷ đồng, thế chấp bằng khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng và hàng tồn kho; (3) vay United Overseas Bank (Vietnam) Limited – Ho Chi Minh City Branch 180 tỷ, thế chấp khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng.

– Phải trả người bán ngắn hạn của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 308 tỷ đồng, giảm 139 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 31.09%), cụ thể, phải trả bên thứ ba trị giá 303 tỷ đồng, trong đó, phải trả cho công ty luật Morris, Manning & Martin 14 tỷ đồng. Ngoài ra, các khoản phải trả cho bên liên quan là 4.8 tỷ đồng, gồm Công ty TNHH Mai Thiên Thanh là công ty liên quan và 3 công ty là công ty liên quan của Chủ tịch HĐQT: Công ty TNHH Bao bì Phú Sĩ, Công ty TNHH Chế biến Thực phẩm Xuất khẩu Vạn Đức Tiền Giang và Công ty TNHH Thực phẩm Vạn Đức.

– Chi phí phải trả ngắn hạn là 176 tỷ đồng, tăng 144 tỷ (tương ứng 446.51%) so với năm 2022. Khoản chi phí này tăng đột ngột là do năm 2023, VHC phải chi trả 142 tỷ hàng tồn kho đang đi đường. Ngoài ra có 22 tỷ chi phí dịch vụ mua ngoài.

– Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước tại thời điểm 31/12/2023 là 133 tỷ đồng, giảm 147 tỷ đồng (52.47%) so với năm 2022.

– Quỹ khen thưởng phúc lợi của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 130 tỷ đồng, tăng 95 tỷ đồng (tương ứng 273.54%) so với 2022.

– Phải trả ngắn hạn khác của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 98 tỷ đồng, tăng 5 tỷ (6.19%) so với 2022, chủ yếu là khoản phải trả cho bên thứ ba, trong đó kinh phí công đoàn là 50 tỷ, các khoản phải trả khác 36 tỷ. Phải trả ngắn hạn cho bên liên quan là 11 tỷ, gồm Công ty TNHH Chế biến Thực phẩm Xuất khẩu Vạn Đức Tiền Giang, Công ty TNHH Thực phẩm Vạn Đức và Công ty TNHH Mai Thiên Thanh.

b) Nợ dài hạn: của Công ty tại thời điểm 31/12/2023 là 118 tỷ đồng, giảm 72 tỷ đồng, tương ứng 37.84% so với năm 2022, chủ yếu là vay và nợ thuê tài chính dài hạn trị giá 102 tỷ đồng. Đây là các khoản vay ngân hàng với mục đích mở rộng để tăng công suất và xây dựng mới các nhà máy trong Tập đoàn, được đảm bảo bằng các máy móc thiết bị.

2.2.2. Vốn chủ sở hữu: Tại thời điểm 31/12/2023, vốn chủ sở hữu của VHC là 8,591 tỷ đồng (chiếm 71.94% tổng nguồn vốn), tăng 896 tỷ so với năm 2022 (tương ứng 11.65%). Trong đó: Vốn góp của chủ sở hữu (cổ phiếu phổ thông có quyền biểu quyết) là: 1,870 tỷ đồng; Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối là 6,213 tỷ đồng; Thặng dư vốn cổ phần 263 tỷ đồng; Lợi ích cổ đông không kiểm soát 243 tỷ đồng. Chênh lệch tỷ giá hối đoái không đáng kể.

Qua bảng cân đối kế toán của VHC ta thấy, cuối năm 2023, tổng tài sản hợp nhất của VHC tăng 3.10%. Tài sản của công ty tập trung chủ yếu là hàng tồn kho chiếm 31,51%, tài sản cố định chiếm 28,33% (chủ yếu là tài sản cố định hữu hình) và đầu tư tài chính ngắn hạn chiếm 17,32%.
Về nguồn vốn, nguồn vốn của VHC chủ yếu đến từ vốn chủ sở hữu (chiếm 71,94%), nợ phải trả chỉ chiếm khoảng ⅓ tổng nguồn vốn của VHC.
2.3. Kết quả hoạt động SXKD:
Đơn vị: Triệu đồng

Năm 2023, VHC đặt kế hoạch doanh thu thuần 11,500 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế hợp nhất 1,000 tỷ đồng. Cuối năm 2023, doanh thu thuần của VHC đạt 10,033 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế hợp nhất 919 tỷ đồng, lần lượt hoàn thành 87% và 92% kế hoạch đặt ra.
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2023 là 10,075 tỷ đồng, giảm 3,388 tỷ đồng (tương đương 25%) so với cùng kỳ năm 2022. Doanh thu của công ty đến từ việc: (1) bán hàng thành phẩm, hàng hoá; (2) bán sản phẩm phụ; (3) cung cấp dịch vụ và (4) bán nguyên vật liệu. Bán hàng thành phẩm, hàng hoá đem về nguồn doanh thu chủ yếu cho VHC với 8,039 tỷ đồng vào năm 2023, chiếm 80.1% tổng doanh thu. Bên cạnh đó, việc bán sản phẩm phụ cũng đem lại 1,659 tỷ đồng (chiếm 16.5% tổng doanh thu). Sau khi tính các khoản giảm trừ, doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ là 10,033 tỷ đồng.

– Giá vốn hàng bán là 8,540 tỷ đồng, giảm 1,714 tỷ đồng (tương đương 17%) so với năm 2022, cụ thể: giá vốn của thành phẩm và hàng hoá đã bán là 6,710 tỷ đồng; giá vốn của phụ phẩm đã bán là 1,495 tỷ đồng; giá vốn nguyên vật liệu đã bán là 237 tỷ; giá vốn dịch vụ đã cung cấp 70 tỷ đồng.

– Chi phí kinh doanh giảm:
+ Chi phí bán hàng tại thời điểm 31/12/2023 là 216 tỷ đồng, giảm 133 tỷ đồng, tương ứng 38%.
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp tại thời điểm 31/12/2023 là 307 tỷ đồng, tăng 64 tỷ đồng, tương ứng 17%.

+ Doanh thu đến từ hoạt động tài chính tại thời điểm 31/12/2023 của VHC là 377 tỷ đồng, giảm 57 tỷ đồng (tương đương 13%) so với năm 2022, chủ yếu đến từ lãi chênh lệch tỷ giá hối đoái đã thực hiện 211 tỷ đồng và lãi tiền gửi 116 tỷ đồng.

– Chi phí tài chính tại thời điểm 31/12/2023 là 228 tỷ đồng, giảm 141 tỷ đồng, tương đương 38%, so với 2022, chủ yếu là lãi vay 133 tỷ đồng và lỗ chênh lệch tỷ giá 126 tỷ đồng.

– Thu nhập khác là 50 tỷ đồng, giảm 16 tỷ đồng (tương ứng 49%) so với cùng kỳ năm trước do thu nhập thuần từ bán phế liệu tăng từ 29 tỷ lên 42 tỷ. Song, chi phí khác giảm từ 29 tỷ xuống 23 tỷ do lỗ thuần do thanh lý nhượng bán TSCĐ giảm 10 tỷ còn 1 tỷ dù phát sinh chi phí khấu hao TSCĐ 3 tỷ.

+ Lợi nhuận sau thuế hợp nhất năm 2023 là 973 tỷ đồng, giảm 1,039 tỷ đồng (tương ứng 52%) so với năm 2022, hoàn thành 92% kế hoạch đề ra.
+ Biên lợi nhuận gộp cuối năm 2023 là 14.88%, giảm 7.61% so với năm 2022. Trong đó, biên lợi nhuận gộp cho thành phẩm, hàng hoá là 16.5%, biên lợi nhuận gộp cho sản phẩm phụ là 9.8%, lần lượt giảm 40% và 24% so với 2022. Sự sụt giảm này diễn ra trong bối cảnh xuất khẩu cá tra của Việt Nam gặp nhiều khó khăn khi đơn hàng tại các thị trường trọng điểm giảm mạnh, đặc biệt là tại thị trường Mỹ. Năm 2023, giá cá tra xuất khẩu liên tục giảm, điển hình là giảm 21 – 42% tại thị trường Mỹ, giảm 10 – 20% tại thị trường Trung Quốc và châu Âu. Doanh thu thuần của VHC vào quý 4/2023 đã giảm 3% YoY và 11% QoQ do giá bán cá tra thấp hơn bình quân dự kiến.

Nhìn chung, có thể thấy, doanh thu của VHC chủ yếu đến từ việc kinh doanh thành phẩm, hàng hoá và sản phẩm phụ. Trong năm 2023, doanh thu của VHC có sự sụt giảm do bối cảnh thị trường ảm đạm. Vì vậy, mặc dù chi phí có được cắt giảm, lợi nhuận thuần của công ty vẫn có sự giảm xuống.
Về mặt hàng cá tra, vốn là chủ lực của VHC, tuy số lượng xuất khẩu có tăng nhưng giá cá tra xuất khẩu tại các thị trường lớn lại giảm. Trong khi đó, mặt hàng gạo lại ghi nhận đà tăng tại thị trường nội địa.

2.4. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:

Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của công ty đến 31/12/2023 là 547 tỷ đồng, giảm 1,057 tỷ đồng, tương đương 65.89% so với năm 2022.
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư là -793 tỷ đồng, tăng 735 tỷ đồng, tương đương 48% so với năm 2022.
Lưu chuyển tiền thuần tư hoạt động tài chính là -72 tỷ đồng, giảm 356 tỷ đồng, tương đương 125% so với năm 2022.
2.5. Chỉ số tài chính:

3. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NĂM 2023 VÀ TRIỂN VỌNG CỦA VHC:
3.1. Tổng quan thị trường cá tra năm 2023:
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, năm 2023, dưới tác động của lạm phát và bất ổn chính trị, ngành hàng cá tra đối mặt với nhiều khó khăn.
Giá trung bình xuất khẩu cá tra giảm ở các thị trường chính, đặc biệt là thị trường Mỹ và Trung Quốc đã kéo giá trị xuất khẩu cá tra xuống thấp hơn so với năm 2022. Tính đến hết tháng 11/2023, kim ngạch xuất khẩu cá tra đạt gần 1,7 tỉ USD, thấp hơn 26% so với cùng kỳ năm ngoái. Kim ngạch xuất khẩu cả năm 2023 ước đạt 1,8 tỷ USD, chỉ bằng 75% so năm 2022. Các thị trường nhập khẩu cá tra Việt Nam năm 2023 đều có xu hướng giảm, Trung Quốc giảm 21,8%, Hoa Kỳ giảm 53,1%, EU giảm 17,2%… Tại các thị trường Đức, Anh, Brazil, Saudi Arabia dù tăng trưởng dương nhưng đây lại là những thị trường chiếm tỷ trọng nhỏ, không đủ sức để bù đắp mức sụt giảm kim ngạch xuất khẩu của những thị trường truyền thống.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự ảm đạm trên thị trường cá tra.
(1) Tình hình thế giới bất ổn và lạm phát toàn cầu khiến nhu cầu tiêu thụ sản phẩm các tra có xu hướng giảm, hoạt động xuất khẩu gặp nhiều khó khăn.
(2) Chi phí tăng: Công đoạn giống, nuôi thương phẩm như: thức ăn chiếm tỉ trọng lớn (70-80%) trong giá thành sản xuất, chi phí nuôi trồng, chi phí chế biến, lưu kho, logistic, chi phí tín dụng… đang tăng mạnh, nhu cầu vốn tăng, trong khi các tổ chức tín dụng thắt chặt các điều kiện cho vay vốn.
(3) Các nước gia tăng rào cản kỹ thuật, đặt ra nhiều tiêu chuẩn và các yêu cầu về lao động, môi trường, trong khi tại Việt Nam, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi cá tra còn hạn chế và chưa đồng bộ để đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường, đặc biệt đối với những hộ nuôi nhỏ lẻ.
(4) Cạnh tranh: Một số quốc gia láng giềng như Trung Quốc, Bangladesh, Indonesia cũng đã phát triển sản xuất cá tra, trong khi đó, sản phẩm cá tra của Việt Nam còn đơn điệu, từ đó ảnh hưởng đến kết quả xuất khẩu và tăng sự cạnh tranh của con cá tra Việt Nam.
Một điểm sáng của thị trường cá tra năm 2023 là khâu sản xuất không bị đứt gãy.
Nhìn chung, các doanh nghiệp có sản phẩm chủ lực là cá tra đã có một năm đầy thách thức và ảm đạm. CTCP Vĩnh Hoàn cũng không phải ngoại lệ.
3.2. Hoạt động kinh doanh của CTCP Vĩnh Hoàn (VHC) năm 2023:
Năm 2023, VHC ghi nhận kết quả hoạt động kinh doanh như sau: Doanh thu thuần giảm do ba trong ba mảng sản phẩm chủ lực (Cá tra, Sản phẩm phụ và Sản phẩm sức khỏe) đều giảm ở cả sản lượng hàng bán lẫn giá bán bình quân. Giá vốn hàng bán giảm nhưng đà giảm chậm hơn so với đà giảm của doanh thu, khiến biên lợi nhuận gộp giảm mạnh, lợi nhuận cũng giảm mạnh vì Công ty vẫn phải chịu chi phí cố định.
(1) VINH FOODS:
Với mảng Vinh Foods, tổng doanh số xuất khẩu Vinh Foods năm 2023 đạt gần 259,4 triệu USD, hoàn thành 74% so với kế hoạch.

Hoạt động chính của VHC là nuôi trồng, chế biến và sản xuất các sản phẩm thủy hải sản, chiết xuất và sản xuất gelatin, collagen thủy phân dùng cho dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm.
Mô hình kinh doanh kinh tế tuần hoàn với phương châm “Zero waste” của VHC nghĩa là tạo ra sản phẩm từ mọi bộ phận của con cá tra (kể cả phế phẩm), giúp giảm giá thành và nâng cao tỷ suất lợi nhuận. Không bộ phận nào của con cá tra bị bỏ đi, ví dụ như da – mỡ – nội tạng những thứ được xem là phế phẩm như trước đây hiện đang được sử dụng để sản xuất sản phẩm giá trị gia tăng. Ngoài sản phẩm chính là phi lê cá; mỡ được sử dụng để sản xuất dầu cá; da cá/ xương/ vảy để sản xuất collagen, gelatin, snack; bong bóng và bao tử cá sấy khô hoặc đông lạnh làm thực phẩm. Trong quá trình sản xuất, VHC đã biến được chất thải thành tài nguyên: nước thải của vùng nuôi có thể mang tưới tiêu cho các loại cây ăn trái hoặc lúa, cá chết và bùn thải chế biến thành phân hữu cơ, bao bì thải ra được làm nguyên liệu cho nhà máy xử lý chất thải – sản xuất phân bón có tên Mai Thiên Thanh. Sản xuất và mua bán bánh phồng tôm, hủ tiếu, bánh phở và chế biến, bảo quản rau quả. So với kế hoạch theo từng mặt hàng, sản phẩm giá trị gia tăng là nhóm sản phẩm duy nhất vượt kế hoạch 133%. Chính hệ thống khép kín đã giúp VHC nắm trọn chuỗi giá trị ngành cá tra, đem lại lợi thế cạnh tranh độc đáo cho VHC.

Xuất khẩu cá tra giảm do khó khăn chung của kinh tế thế giới, cũng như chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các dòng cá biển và cá thịt trắng của nhiều quốc gia khác với giá bán thấp do hoàn cảnh đặc thù thị trường toàn cầu của năm 2023.
Năm 2023, mặc dù gặp nhiều khó khăn, CTCP Vĩnh Hoàn giữ vững vị trí đầu ngành, chiếm 13% giá trị toàn ngành cá tra Việt Nam. Tỷ trọng xuất khẩu cá tra tại các thị trường của Vĩnh Hoàn so với các doanh nghiệp cùng ngành ở Việt Nam như sau: Mỹ (46%); EU (22%); Canada (29%) và Australia (32%).
(2) VINH WELLNESS
Vinh Wellness hoạt động trong lĩnh vực sản xuất collagen và gelatin từ da cá tra.
Năm 2023, doanh thu của mảng Vinh Wellness đạt 31 triệu USD, giảm 15% so với năm 2022. Sự giảm doanh thu chủ yếu đến từ mặt hàng gelatin, do bị ảnh hưởng bởi sự sụt giảm nhu cầu thị trường, lượng tồn kho cao. Song, trong Q4.2023, doanh thu mảng Vinh Wellness tăng 30% so với Q3.2023. Doanh số và sản lượng sản phẩm Collagen vẫn duy trì ở mức ổn định. Nguyên nhân chủ yếu của điều này là chính sách bán hàng hiệu quả và chất lượng sản phẩm ổn định của dòng sản phẩm Vinh Wellness Collagen.
(3) VINH AGRICULTURE
Vinh Agriculture là ngành nghề kinh doanh được mở ra từ khi Công ty TNHH Nông sản Thực phẩm Thành Ngọc (TNG Food) được thành lập. Vinh Agriculture tập trung vào ngành chế biến trái cây. Một số mặt hàng nông sản phổ biến là chuối, dưa lưới dưa đỏ, sầu riêng, xoài, chanh dây, dứa, thanh long đỏ và đu đủ thịt đỏ, bắp… hướng đến các thị trường chính là Singapore, Nhật, và Hàn Quốc, mà trong đó, Nhật là thị trường chủ đạo. Hai dòng sản phẩm chính của Vinh Agri là sấy thăng hoa (FD) và đông lạnh (IQF). Trong năm 2023, doanh thu của Vinh Agri đã đạt 0,56 triệu USD.
3.3. Triển vọng và thách thức năm 2024 của CTCP Vĩnh Hoàn:
(1) Triển vọng:
– Kinh tế phục hồi và lạm phát cải thiện, ngành thủy sản được dự báo có thể đạt mức tăng trưởng 20 – 30% năm 2024.
– Kỳ vọng nhu cầu ăn uống cải thiện, bán lẻ phục hồi ở nhiều thị trường: Theo thống kê của Hải quan Việt Nam, kim ngạch xuất nhập khẩu cá tra Việt Nam 5 tháng đầu năm 2024 ước đạt 725 triệu USD, tăng 2% so với cùng kỳ năm ngoái. Mỹ là thị trường nhập khẩu cá tra Việt Nam nhiều nhất hiện nay, sau đó là thị trường Trung Quốc, châu Âu và một số thị trường Nam Mỹ khác.
● Thị trường Mỹ:
+ Xuất khẩu khả quan hơn tại thị trường Mỹ, đặc biệt sau khi các doanh nghiệp cá tra tham gia Triển lãm thủy sản Bắc Mỹ hồi tháng 3/2024, tiếp sau đó là Triển lãm thủy sản toàn cầu tại Tây Ban Nha cuối tháng 4/2024.
+ Mỹ tăng cường nhập khẩu cá tra chế biến, giá trị gia tăng gấp 8.5 lần so với cùng kỳ 2023; nhu cầu tiêu dùng cá tra đông lạnh giảm. Tuy nhiên, fillet cá tra đông lạnh vẫn là mặt hàng chủ lực xuất khẩu sang Mỹ, tính đến hết T5/2024, xuất khẩu fillet cá tra đông lạnh sang Mỹ đạt hơn 120 triệu USD, chiếm 98% tổng giá trị xuất khẩu cá tra sang Mỹ. Cá tra đông lạnh là 1 trong những sản phẩm mũi nhọn của VHC.
+ Hàng tồn kho tại thị trưởng Mỹ có giảm nhưng vẫn duy trì ở mức cao.

● Thị trường châu Âu:
+ Tháng 11/2023, Liên minh châu Âu cũng quyết định tăng cường kiểm soát việc nhập khẩu các sản phẩm cá từ Trung Quốc để kiểm soát hoạt động đánh bắt phi pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
+ Hội đồng châu Âu (EC) cũng đã quyết định không cho phép các sản phẩm thủy sản có nguồn gốc từ Nga được hưởng ưu đãi miễn thuế trong giai đoạn 2024 – 2026.
=> Những động thái này cũng sẽ mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam đẩy mạnh chiếm lĩnh thị phần tại EU. Kim ngạch xuất khẩu cá tra sang thị trường châu Âu 5 tháng đầu năm ước đạt 70 triệu USD.
+ Đức là điểm đến lớn nhất của xuất khẩu cá tra Việt Nam trong khối châu Âu. Bên cạnh đó, nhiều thị trường châu Âu cũng tăng cường nhập khẩu cá tra Việt Nam như Lithuania (tăng 215%), Tây Ban Nha (tăng 69%), Bỉ (tăng 62%)… do nhu cầu tiêu thụ cá thịt trắng lớn.
+ Ngoài ra, DN xuất khẩu VN còn có lợi thế ưu đãi từ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA).
● Thị trường Trung Quốc: giảm tồn kho, tăng mua, triển vọng xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc rất lớn.
● Thị trường Nam Mỹ: chuộng cá tra giá rẻ nên tăng cường nhập khẩu cá tra Việt Nam.
– Nỗ lực từ VHC:
● Tiếp tục đầu tư ngân sách cho chương trình ứng dụng khoa học kỹ thuật dài hạn tại Trung tâm cá giống, nổi bật là chương trình chọn lọc gen cho đàn cá bố mẹ đã bước vào năm thứ 2 với các kết quả ổn định.
● Tập trung nâng cao tỷ trọng nhóm sản phẩm này, đồng thời thúc đẩy năng lực phát triển sản phẩm mới trên nền tảng mở rộng sự kết hợp với các loài thủy sản khác: Ngoài cá tra thì còn cá hồi.
● Gia tăng năng lực sản xuất nhờ dây chuyền sản xuất gelatin mới dự kiến đi vào hoạt động vào cuối quý 1 năm 2024.
● Với nhóm các sản phẩm từ gạo: Dây chuyền phở ăn liền Sa Giang đi vào hoạt động vào đầu năm 2024.
● Năm 2023, VHC nâng tỷ lệ sở hữu tại công ty con chuyên hoạt động trong lĩnh vực chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản – Công ty TNHH MTV Thực phẩm Vĩnh Phước. Năm 2024, Thủy sản Vĩnh Hoàn dự kiến mở rộng, tăng công suất tại Công ty Vĩnh Hoàn Collagen, Giai đoạn 1 Nhà máy chế biến trái cây Thành Ngọc, Nhà máy thức ăn thủy sản Feedone và Nhà máy Sa Giang. Ngoài ra, công ty này dự kiến mở rộng vùng nuôi; đồng thời, cải tạo các nhà máy Vĩnh Phước,Vĩnh Hoàn.

(2) Thách thức:
– Doanh nghiệp Việt Nam phải đáp ứng được quy định nghiêm ngặt về hệ thống và quy trình từ các nước tiêu thụ thuộc các thị trường lớn như Mỹ hay châu Âu.
– Căng thẳng xung đột Nga – Ukraine và xung đột ở Trung Đông ảnh hưởng đến tốc độ phục hồi và tăng trưởng kinh tế châu Âu. Xuất khẩu thuỷ sản nói chung và xuất khẩu cá tra nói riêng sang châu Âu sẽ chịu ảnh hưởng của suy thoái chung.