CTCP NAM VIỆT
I. GIỚI THIỆU CHUNG
1. Thông tin chung
● Tên đầy đủ: Công ty cổ phần Nam Việt
● Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số: 1600168736
● Vốn điều lệ: 1.335.396.250.000 đồng
● Vốn chủ sở hữu: 1.335.396.250.000 đồng
● Điện thoại: (84.296) 393 2486 – 383 4060
● Email: namvietagg@hcm.vnn.vn
● Website: https://navicorp.com.vn/
● Mã cổ phiếu: ANV
2. Quá trình hình thành và phát triển
– Công ty TNHH Nam Việt được thành lập vào năm 1993 với vốn điều lệ ban đầu là 27 tỷ đồng và chức năng kinh doanh chính là xây dựng dân dụng và công nghiệp.
– Từ năm 2001 đến 2004: Nam Việt đầu tư thêm 2 nhà máy sản xuất thủy sản đông lạnh với tổng công suất chế biến trung bình là 500 tấn cá/ngày.
– Ngày 02/10/2006, Chính thức chuyển đổi thành Công ty Cổ phần Nam Việt với vốn điều lệ 660 tỷ đồng.
– Năm 2007, Niêm yết cổ phiếu tại HOSE và tăng vốn điều lệ lên 1,250,446,250,000 đồng.
– Năm 2012, Xây dựng và đưa Nhà máy chế biến thủy sản đi vào hoạt động với tổng công suất 200,000 tấn/năm.
– Năm 2018, Tăng vốn điều lệ lên 1,275,396,250,000 đồng.
3. Lĩnh vực kinh doanh
Ngành nghề kinh doanh chính:
– Chế biến XK các sản phẩm từ cá tra, cá basa cùng một số sản phẩm từ các loại thủy sản khác…
– Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu: sản xuất thuốc thú y, thủy sản
– Bán buôn đồ dùng khác cho gia đình: bán buôn thuốc thú y.
Địa bàn kinh doanh: Navico là doanh nghiệp xuất khẩu cá tra hàng đầu thế giới đến hơn 100 Quốc gia trên khắp thế giới.
4. Các công ty con và công ty liên kết
Navico có 9 công ty con, liên doanh, liên kết.

5. Cơ cấu cổ đông
– Về cơ cấu cổ đông, Navico có 96.6% là cổ đông trong nước và 3.4% là cổ đông nước ngoài.
– Trong đó, cổ đông lớn của ANV là ông Doãn Tới, hiện là Tổng Giám đốc kiêm Phó Chủ tịch HĐQT, nắm giữ 53.77% cổ phần và ông Doãn Chí Thanh, hiện là Giám đốc kinh doanh, nắm giữ 12.85% cổ phần.

Lịch sử thay đổi vốn điều lệ:
– Công ty thực hiện 5 lần tăng vốn điều lệ. Tháng 12/2018, công ty đã nâng vốn điều lệ lên 1.275.396 triệu VNĐ.

Lịch sử chi trả cổ tức:
– Ngày 25/11/2021: Trả cổ tức năm 2020 bằng tiền, 1,000 đồng/CP
– Ngày 31/10/2022: Trả cổ tức năm 2021 bằng tiền, 1,000 đồng/CP
– Ngày 30/10/2023: Trả cổ tức năm 2022 bằng tiền, 1,000 đồng/CP

6. Ban lãnh đạo
Tại thời điểm hiện tại, Chủ tịch Hội đồng quản trị là ông Đỗ Lập Nghiệp, hiện nắm giữ 0.35% cổ phần của doanh nghiệp.

II. TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY 2023
1. Bảng cân đối kế toán

1.1. Tổng tài sản
Theo thông tin trong Báo cáo tài chính đến hết 31/12/2023, Tổng tài sản của Công ty đạt 5,112 tỷ đồng giảm 355 tỷ (tương đương 6.49%) so với năm 2022. Trong cơ cấu tổng tài sản thì tài sản ngắn hạn là 2,950 tỷ đồng (chiếm 57.71% tổng tài sản) và tài sản dài hạn là 2,162 tỷ đồng (tương đương 42.29% tổng tài sản).
1.1.1. Tài sản ngắn hạn
– Năm 2023, Tiền và các khoản tương đương tiền là 39 tỷ đồng, chiếm 0.78% tổng tài sản, tăng 8 tỷ đồng, tương đương 27.75% so với năm 2022.

– Năm 2023, Đầu tư tài chính ngắn hạn năm 2023 là 71 tỷ đồng, chiếm 1.41% tổng tài sản, giảm 286 tỷ đồng, tương đương 79.9% so với năm 2022. Đây là khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn tại thời điểm 31/12/2023.
– Các khoản phải thu ngắn hạn năm 2023 là 369 tỷ đồng, chiếm 7.22% tổng tài sản, giảm 65 tỷ đồng, tương đương 15.06% so với năm 2022, trong đó, chủ yếu là:
+ Phải thu ngắn hạn của khách hàng là 358 tỷ đồng, chiếm 7.02% tổng tài sản, giảm 53 tỷ đồng, tương đương 13.02% so với năm 2022. Khoản này có 7 tỷ phải thu các bên liên quan; và 351 tỷ là phải thu các khách hàng khác, chủ yếu là các khách hàng nước ngoài.

+ Trả trước cho bên liên quan là 20 tỷ đồng, chiếm 0.4% tổng tài sản, giảm 4 tỷ đồng, tương đương 16.54% so với năm 2022. Đây chủ yếu là các khoản trả trước cho các nhà cung cấp trong nước khác (18 tỷ).

+ Phải thu ngắn hạn khác là 28 tỷ đồng, chiếm 0.55% tổng tài sản, tăng 2.77% so với năm 2022. Khoản này tập trung ở các khoản phải thu ngắn hạn khác (18 tỷ) và tạm ứng (2 tỷ).

– Năm 2023, Hàng tồn kho là 2,347 tỷ đồng, chiếm 45.9% tổng tài sản, tăng 13 tỷ đồng, tương đương 0.58% so với năm 2022. Trong đó, tập trung ở nguyên liệu, vật liệu (427 tỷ, tăng 34%), chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang (948 tỷ, giảm 14%), thành phẩm (970 tỷ, tăng 8%).
Do sức tiêu thụ ở các thị trường xuất khẩu còn yếu nên tồn kho thành phẩm và nguyên vật liệu tăng. Lũy kế năm 2023 giá trị xuất khẩu của ANV chỉ đạt 112,5 triệu USD (giảm 10,3% so với năm trước).
Hàng tồn kho có trị giá 362 tỷ được thế chấp để đảm bảo cho các khoản vay Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Ngân hàng TMCP Quân đội.

– Năm 2023, Tài sản ngắn hạn khác là 123 tỷ đồng, chiếm 2.41% tổng tài sản, tăng 24 tỷ đồng, tương đương 25.15% so với năm 2022. Trong đó, chi phí trả trước ngắn hạn là 20 tỷ chủ yếu chi cho Chi phí sửa chữa (8 tỷ) và các chi phí trả trước ngăn ngắn hạn khác (7 tỷ).

1.1.2. Tài sản dài hạn
– Năm 2023, Các khoản phải thu dài hạn là 32 tỷ đồng, chiếm 0.64% tổng tài sản, tăng 10 tỷ đồng, tương đương 44.34% so với năm 2022. Trong đó, chủ yếu là khoản phải thu dài hạn khác là các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn.
– Năm 2023, Tài sản cố định là 1,032 tỷ đồng, chiếm 20.18% tổng tài sản, giảm 70 tỷ đồng, tương đương 6.38% so với năm 2022. Trong đó:
+ Tài sản cố định hữu hình là 324 tỷ, chiếm 6.36% tổng tài sản, giảm 170 tỷ, tương đương 34.48% so với năm trước. Khoản này chủ yếu là Máy móc và thiết bị (156 tỷ); Nhà cửa, vật kiến trúc (57 tỷ).
+ Tài sản cố định thuê tài chính là 360 tỷ, chiếm 7.05% tổng tài sản, tăng 106 tỷ, tương đương 41.92% so với năm trước.

+ Tài sản cố định vô hình là 346 tỷ, chiếm 6.78% tổng tài sản, giảm 5 tỷ, tương đương 1.64% so với năm trước. Khoản này chủ yếu là quyền sử dụng đất (346 tỷ). Một số tài sản có giá trị theo sổ sách là 134 tỷ được thế chấp để đảm bảo cho các khoản vay.

– Năm 2023, Chi phí xây dựng cơ bản dở dang là 918 tỷ đồng, chiếm 17.96% tổng tài sản, tăng 21 tỷ đồng, tương đương 2.45% so với năm 2022. Đây chủ yếu là khoản Xây dựng cơ bản dở dang (827 tỷ). Trong đó, tập trung ở khoản chi cho Dự án khu nuôi trồng thủy sản Bình Phú (600 tỷ) chủ yếu là tiền mua đất (582 tỷ) mà Tập đoàn mua lại quyền sử dụng đất của các hộ dân; và Dự án các khu nuôi trồng thủy sản khác – Đất (209 tỷ).
Lũy kế năm 2023 giá trị xuất khẩu của ANV chỉ đạt 112,5 triệu USD (giảm 10,3% so với năm trước). Do tốc độ hồi phục chậm nên ANV cũng chưa đẩy mạnh việc triển khai các dự án xây dựng khu nuôi trồng thủy sản, trong đó lớn nhất là dự án vùng nuôi Bình Phú có diện tích 600ha. Dự án này có quy mô hơn 600 ha với tổng vốn đầu tư 4.000 tỷ đồng, được Thuỷ sản Nam Việt khởi công vào năm 2019. Dự án này được chia thành 2 khu, bao gồm khu sản xuất giống cá tra 3 cấp chất lượng cao (diện tích nuôi 150 ha, vốn đầu tư 1.000 tỷ đồng) và khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nuôi trồng thuỷ sản, nuôi cá tra thương phẩm (diện tích nuôi 450 ha, vốn đầu tư 3.000 tỷ đồng), dự kiến sẽ sản xuất 200.000 tấn cá tra nguyên liệu/năm phục vụ chế biến xuất khẩu. Khi dự án đi vào hoạt động, tổng kim ngạch xuất khẩu của Thuỷ sản Nam Việt sẽ tăng gấp đôi lên mức 250 – 300 triệu USD/năm.

– Năm 2023, Đầu tư tài chính dài hạn là 72 tỷ đồng, chiếm 1.4% tổng tài sản, tăng 4 tỷ đồng, tương đương 5.7% so với năm 2022.
– Năm 2023, Tài sản dài hạn khác là 107 tỷ đồng, chiếm 2.11% tổng tài sản, giảm 7 tỷ đồng, tương đương 6.75% so với năm 2022. Đây chủ yếu là khoản Chi phí trả trước dài hạn là 95 tỷ, giảm 3 tỷ so với năm trước. Khoản này tập trung chi cho tiền thuê đất (52 tỷ); khoản lỗ của tài sản bán và thuê lại (17 tỷ); và chi phí sửa chữa (14 tỷ).

1.2. Tổng nguồn vốn
Tính đến hết 31/12/2023, Tổng nguồn vốn của Công ty đạt 5,112 tỷ đồng. Trong cơ cấu tổng nguồn vốn thì nợ phải trả là 2,264 tỷ đồng (chiếm 44.3% tổng nguồn vốn) và vốn chủ sở hữu là 2,848 tỷ đồng (tương đương 55.7% tổng nguồn vốn).
1.2.1. Nợ phải trả
– Nợ phải trả của Công ty năm 2023 là 2,264 tỷ. Trong đó, nợ ngắn hạn là 2,103 tỷ, chiếm 92.88% nợ phải trả; nợ dài hạn là 161 tỷ, chiếm 7.12% nợ phải trả.
– Năm 2023, Phải trả người bán ngắn hạn là 173 tỷ đồng, chiếm 3.39% tổng nguồn vốn, giảm 104 tỷ đồng, tương đương 37.44% so với năm 2022. Trong đó, chủ yếu là khoản phải trả cho Công ty TNHH Đại Tây Dương (15 tỷ), các nhà cung cấp trong nước (95 tỷ), và trả cho các nhà cung cấp trong nước là chủ vùng nuôi cá (20 tỷ).

– Năm 2023, Người mua trả tiền trước ngắn hạn là 9 tỷ đồng, giảm 6 tỷ đồng, tương đương 39.07% so với năm 2022.

– Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước là 27 tỷ đồng, chiếm 0.55% tổng nguồn vốn, giảm 91 tỷ đồng, tương đương 76.54% so với năm 2022.

– Phải trả người lao động là 35 tỷ đồng, chiếm 0.68% tổng nguồn vốn, giảm 17 tỷ đồng, tương đương 32.74% so với năm 2022.
– Chi phí phải trả ngắn hạn là 8 tỷ đồng, chiếm 0.16% tổng nguồn vốn, giảm 29 tỷ đồng, tương đương 78.26% so với năm 2022. Khoản này tập trung ở chi phí lãi vay và chi phí hoa hồng môi giới.

– Doanh thu chưa thực hiện là 1 tỷ đồng, chiếm 0.03% tổng nguồn vốn.
– Năm 2023, Phải trả khác là 65 tỷ đồng, chiếm 1.28% tổng nguồn vốn, giảm 82 tỷ đồng, tương đương 55.78% so với năm 2022.
+ Phải trả ngắn hạn khác là 63 tỷ, chủ yếu là trả cho ông Doãn Tới khoản cổ tức phải trả (38 tỷ), Phải trả các tổ chức và cá nhân khác (13 tỷ).

– Năm 2023, Vay và nợ thuê tài chính là 1,928 tỷ đồng, chiếm 37.72% tổng nguồn vốn, tăng 6 tỷ đồng, tương đương 0.34% so với năm 2022. Trong đó:
+ Vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn là 1,783 tỷ đồng, chiếm 92.49% tổng vay và nợ thuê tài chính, tăng 14 tỷ đồng, tương đương 0.82% so với năm 2022. Trong đó, chủ yếu là Vay ngắn hạn ngân hàng (1,677 tỷ) tập trung ở khoản vay Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (579 tỷ), Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (205 tỷ) để bổ sung vốn lưu động.

+ Vay và nợ thuê tài chính dài hạn là 145 tỷ đồng, chiếm 7.51% tổng vay và nợ thuê tài chính, giảm 7 tỷ đồng, tương đương 5.19% so với năm 2022. Khoản này chủ yếu là nợ thuê tài chính (128 tỷ). Khoản nợ Vay Ngân hàng United Overseas Bank là 16 tỷ để tái tài trợ 60% chi phí mua thiết bị, dụng cụ, chi phí xây dựng và các chi phí mềm khác liên quan đến 8 cụm điện mặt trời.

1.2.2. Vốn chủ sở hữu
– Năm 2023, Vốn góp của chủ sở hữu là 1,335 tỷ đồng, chiếm 26.12% tổng nguồn vốn, tăng 60 tỷ đồng, tương đương 4.7% so với năm 2022.
– Năm 2023, Thặng dư vốn cổ phần là 21 tỷ đồng, chiếm 0.42% tổng nguồn vốn, không thay đổi so với năm 2022.
– Năm 2023, Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối là 1,518 tỷ đồng, chiếm 29.7% tổng nguồn vốn, giảm 94 tỷ đồng, tương đương 5.85% so với năm 2022.
Như vậy, với đặc thù là doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho chiếm tới gần 1 nửa tổng tài sản của ANV. Năm nay, tồn kho thành phẩm và nguyên vật liệu tăng do sức tiêu thụ ở các thị trường xuất khẩu còn yếu.
Tính đến cuối năm 2023, tổng nợ vay của ANV không tăng nhiều so với đầu năm, trong đó chiếm phần lớn là vay ngắn hạn. Khoản vay ngắn hạn không gia tăng do hàng tồn kho còn khá nhiều nên giảm bớt nhu cầu vốn lưu động để mua nguyên vật liệu.
Với khối lượng hàng tồn kho lớn nên chỉ số thanh toán nhanh của công ty giảm trong quý 4/2023 còn 0.28, thấp hơn con số 0.4 lần thường xuyên được duy trì trước đây.
2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

– Doanh thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2023 là 4,461 tỷ, giảm 472 tỷ, tương đương 9.58% so với năm 2022. Trong đó:
+ Doanh thu bán thành phẩm (mảng cá tra): 4,336 tỷ.
+ Doanh thu bán điện năng lượng mặt trời: 106 tỷ.
+ Doanh thu thi công công trình xây lắp: 3 tỷ.
+ Doanh thu khác: 15 tỷ.

– Giá vốn hàng bán là 3,991 tỷ, tăng 430 tỷ, tương đương 12.09% so với năm 2022. Trong đó:
+ Giá vốn bán thành phẩm: 3,930 tỷ.
+ Giá vốn bán điện năng lượng mặt trời: 34 tỷ.
+ Giá vốn thi công công trình xây lắp: 2 tỷ.
+ Giá vốn khác: 16 tỷ.
+ Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: 8 tỷ.
– Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ là 447 tỷ, giảm 888 tỷ, tương đương 66.5% so với năm 2022. Trong đó, biên lợi nhuận gộp của mảng cá tra đạt 9% (giảm 29% so với năm trước), mảng điện mặt trời đạt 79% (giảm 11%).

– Chi phí bán hàng là 188 tỷ, giảm 189 tỷ, tương đương 50.18% so với năm trước.
– Chi phí quản lý doanh nghiệp là 75 tỷ, giảm 18 tỷ, tương đương 19.648% so với năm 2022.
– Doanh thu hoạt động tài chính là 32 tỷ, giảm 47 tỷ, tương đương 59.71% so với năm 2022. Trong đó, chủ yếu là lãi tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn (17 tỷ) và lãi chênh lệch tỷ giá phát sinh (14 tỷ).

– Chi phí tài chính là 164 tỷ, giảm 23 tỷ, tương đương 12.54% so với năm 2022. Chủ yếu là chi phí lãi vay (137 tỷ) và lỗ chênh lệch tỷ giá phát sinh (24 tỷ).

– Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh là 46 tỷ, giảm 707 tỷ, tương đương 93.79% so với năm 2022.

Nhận xét: Như vậy, ANV chỉ hoàn thành 85% mục tiêu doanh thu và 22,5% mục tiêu lợi nhuận năm 2023. Hoạt động của ANV có tín hiệu cải thiện tuy nhiên chưa thật sự rõ rệt. Doanh thu tăng rất yếu trong khi chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp vẫn ở mức cao khiến lợi nhuận hụt đi đáng kể. ANV cho biết mặc dù đơn hàng về công ty khá tốt nhưng lợi nhuận gần như không có do giá thành đầu ra đang chịu sức ép cạnh tranh gay gắt trong khi chi phí đầu vào neo cao.
+ Chi phí vận tải biển tăng vọt do cuộc xung đột quân sự Nga – Ukraine và các xung đột địa chính trị phức tạp tại Trung Đông, đẩy giá nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất thức ăn chăn nuôi cá tra, qua đó khiến giá thành cá nguyên liệu tăng.
+ Chính sách tiền tệ thắt chặt của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã làm ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu, khiến giao thương của các nước giảm sút, thị trường xuất khẩu đối với cá tra gặp nhiều khó khăn. Một số thị trường tăng cường áp dụng các hàng rào phi thuế quan để hạn chế và thắt chặt kiểm soát hàng nhập khẩu.
+ Ngoài ra, việc các loại cá thịt trắng khác như cá minh thái, cá tuyết giảm đã ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng tiêu thụ và giá cá tra trên thị trường.
3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh đạt âm 81 tỷ và giảm 347 tỷ so với năm 2022.
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư đạt 416 tỷ đồng và tăng 359 tỷ so với năm 2022.
Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính đạt âm 325 tỷ và tăng 7 tỷ so với năm 2022.

III. TRIỂN VỌNG CỦA DOANH NGHIỆP
1. Về mảng cá tra:
– Kỳ vọng về sự hồi phục và tăng trưởng xuất khẩu và nhu cầu nội địa:
+ ANV ghi nhận kim ngạch xuất khẩu tại thị trường Mỹ đạt khoảng 8 triệu USD (tăng 300% yoy) trong năm 2023. Từ đó, kỳ vọng ANV tiếp tục duy trì tăng trưởng tại thị trường này nhờ (1) tiếp tục được hưởng mức thuế chống bán phá giá là 0% (theo POR19); (2) Tồn kho cá tra tại Mỹ có dấu hiệu giảm hỗ trợ giá cá hồi phục, (3) Nguồn cung cá Minh Thái vào Mỹ bị hạn chế
+ Doanh số tại Trung Quốc tiếp tục được đẩy mạnh, công ty đang mở rộng tập KH tại Bắc Kinh và Quảng Châu.
+ ANV và Bách Hóa Xanh đã hợp tác từ tháng 3/2023 để tiếp cận thị trường nội địa từ đó doanh thu nội địa tăng 63% so với năm trước.

– Trong khi đó, chi phí đầu vào được kỳ vọng giảm nhờ xu hướng giá ngũ cốc tiếp tục đi xuống và dự báo thời tiết chuyển sang ôn hoà hơn trong năm tới.

+ Hiện nay, Công ty đã đảm bảo tự chủ 100% thức ăn cho việc nuôi trồng, 100% cá nguyên liệu cho các nhà máy chế biến. Trong đó có: 10 lines nhà máy thức ăn với công suất hơn 1.000 tấn thành phẩm/ngày; 17 vùng nuôi cá CTCP Nam Việt với tổng diện tích mặt nước đạt 400 ha; Gần 600 vùng nuôi Công ty TNHH MTV NTTS Nam Việt – Bình Phú; 4 nhà máy chế biến với tổng công suất thiết kế 1.000 tấn cá nguyên liệu/ngày.
– Đồng thời, vùng nuôi của Thuỷ sản Nam Việt tập trung chủ yếu ở tỉnh An Giang – khu vực không bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn trong nhiều thập niên qua, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát chất lượng nguồn cá nguyên liệu.
Mảng Collagen & Gelatin (C&G)
– ANV đã trở thành doanh nghiệp thứ hai tại Việt Nam sản xuất C&G từ da cá tra sau VHC. Dự án liên doanh giữa ANV và Amicogen đang chạy thử nghiệm giai đoạn 1 với công suất chế biến 780 tấn/năm. Ở cuối quý 4/2023, mảng này đã bắt đầu có doanh thu. Công ty dự định tiếp tục triển khai giai đoạn 2 và 3 nhằm nâng công suất lên 1.200 và 2.400 tấn. Dự báo doanh thu thuần và lợi nhuận gộp của mảng C&G sẽ đạt lần lượt là 85 tỷ và 2,5 tỷ VND trong năm 2024. Mảng sản phẩm C&G được kỳ vọng sẽ đóng góp 10% lợi nhuận của ANV vào năm 2025F.

Dự phóng doanh thu, lợi nhuận
– Giả định là giá cá tra xuất khẩu và nhu cầu tiêu thụ ở các thị trường quan trọng là Mỹ và Trung Quốc phục hồi mạnh mẽ kể từ Q2.2024, dự phóng doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế của ANV năm 2024 đạt lần lượt 4.972 tỷ và 388 tỷ.